Nếp cũ nhà xưa
Truyện ngắn 05/07/2026 12:07
Cuối tháng 5/2026, tôi có dịp gặp lại người anh họ Nguyễn Bá Thành, sinh viên Khoa Toán, Trường Đại học sư phạm (ĐHSP) thành phố Hồ Chí Minh khóa 1982 - 1986. Tôi thì học Khoa Ngữ văn khóa 1983 - 1987. Câu chuyện của anh em tôi xoay quanh những bữa cơm sinh viên ở ký túc xá 222 Nguyễn Văn Trỗi, quận 3 (sau đổi tên đường là Lê Văn Sĩ). Đã gần 40 năm trôi qua nhưng tôi vẫn nhớ căn phòng 101 có 12 bạn lớp Văn 4A với 6 chiếc giường tầng, và nữ sinh viên chúng tôi lấy cơm dưới bếp tập thể về rồi… ăn luôn tại giường, giờ nghĩ lại vẫn thấy thương đến lạ.
Ở thời bao cấp, tất cả sinh viên đều không phải đóng tiền học phí. Sinh viên chúng tôi còn được lĩnh tiền phụ cấp hằng tháng, được nhận nhu yếu phẩm như kem đánh răng, xà bông bột, nước mắm, dầu hỏa, vải … và được 17 ký gạo (hệ đại học). Thời đó, nếu gia đình khó khăn, cha mẹ không có tiền chu cấp thì khi đã thi đỗ vào Đại học, Cao đẳng hay một trường Trung cấp nào đó, người ta vẫn có thể đi học.
![]() |
| Hình ảnh tác giả cung cấp. |
Thuở ấy, mọi việc nhận nhu yếu phẩm của lớp đều đổ dồn lên vai lớp phó đời sống. Riêng với những sinh viên đăng ký ăn ở bếp tập thể, tiêu chuẩn gạo tháng sẽ không được nhận mà được quy đổi trọn vẹn thành những tấm phiếu ăn. “Tấm bùa hộ mệnh” của sinh viên ký túc xá Sư phạm ngày đó thực chất là một tờ giấy thô in lịch ba mươi ngày, có đóng dấu đỏ chót của nhà trường, chia làm ba mươi phiếu trưa và ba mươi phiếu chiều, xếp ngay ngắn thành từng ô nhỏ.
Nhắc lại câu chuyện cơm sinh viên của gần 40 năm về trước, anh Bá Thành nói giọng trầm ngâm, thấu hiểu và cảm thông với thời cuộc: Ngày ấy, những học trò dưới mái trường Đại học Sư phạm, ai ai cũng thường mang theo phiếu ăn trong cặp hoặc túi xách. Trưa về đến ký túc xá là họ đi thẳng vào bếp ăn tập thể. Cứ gom đủ 4 người, 4 tấm phiếu ăn nhập lại làm một, là họ đã có thể bê về một nồi cơm nghi ngút khói để cùng chung vui, đó thường là thói quen các bạn nam sinh viên. Với cánh nữ sinh chúng tôi, chuyện gộp phiếu ăn cũng linh hoạt vô cùng. Ai thích ăn chung thì gộp lại, bạn nào muốn ăn riêng thì nhận về phần cơm chừng ba lưng chén. Chúng tôi thường rủ nhau theo công thức 3 đứa ăn 2 suất, hoặc 4 đứa chung 3 suất, phần phiếu thừa đem bán lại cho nhà bếp để có thêm chút tiền còm mua thức ăn. Ngày ấy, chỉ cần tạt qua ngôi chợ đối diện ký túc xá, mua một hũ chao nhỏ nhắn là cả phòng đã có một bữa đại tiệc. Những miếng chao sao mà ngon đến thế, cứ béo ngậy nơi đầu lưỡi, khiến đứa nào đứa nấy cứ muốn xới thêm cơm. Có những ngày, cả phòng lại góp những đồng tiền lẻ để đong từng lít nước tương chợ, chứ đâu dám mơ đến những chai nước tương đóng sẵn nhãn hàng. Ấy vậy mà sao vẫn thấy ngon, thấy ấm lòng đến lạ!
Cơm sinh viên ngày ấy được nấu từ thứ gạo kho đã cũ, vậy mà khi nhai kỹ, tôi vẫn cảm nhận được cái vị ngọt lành nguyên sơ chứ chẳng hề thấy mùi gạo hẩm.Thức ăn thường xuyên là đậu que xào, mỗi sinh viên được khoảng một gắp. Canh rau muống mỗi người được một muôi bằng khoảng một cái chén nhỏ. Sinh viên chúng tôi quen gọi là “canh đại dương” vì trong mênh mông nước muối trong vắt ấy, chỉ có vài cọng rau dài chừng hai phân điểm xuyết vài chiếc lá đã chuyển màu vàng ố, cứ bình thản “bơi bơi” giữa “lòng đại dương” không bờ bến. Hình ảnh những cái chảo cơm to, phải hai vòng tay người ôm mới hết ấy vẫn còn đậm nét trong ký ức tôi. Cơm canh được nấu bằng than đá. Các chị cấp dưỡng không dùng đũa cả hay cái muôi bình thường như các gia đình vẫn dùng. Họ dùng “cái xẻng” để vợi cơm ra những cái rổ lớn rồi mới chia cơm vào những cái nồi nhỏ. Một cái nồi nhỏ là 4 phần cơm cho sinh viên. Canh cũng được họ nấu vào những cái chảo to ấy. Canh rau muống là muôn thuở ở ký túc xá chúng tôi.
Anh Bá Thành nay mái đầu đã bạc trắng. Hướng ánh nhìn về một phía xa xăm, đôi chân mày khẽ chau lại, anh trầm ngâm bảo: Lắm khi cái đói nó khiến con người trở nên tính toán đến mức bần tiện. Hồi ấy có sinh viên họ nghĩ ra cách xới cơm sao cho bản thân mình được nhiều chén nhất khi ăn chung với bạn. Đó là, chén đầu chỉ xới vừa vừa, chén thứ hai xới vơi một nửa thì mới “kịp” xới chén thứ ba. Ở chén cuối này, họ ấn cho thật chặt, đầy vun lên. Thực tế, “cái đói và miếng ăn” đã có lúc nó chi phối và khiến con người có cách hành xử ích kỷ. Tôi chợt nhớ đến câu chuyện của anh Dũng ở Đắk Lắk, nguyên sinh viên Khoa Ngữ văn sau khi đã xong ba năm nghĩa vụ quân sự. Anh học trước tôi một khóa. Sinh viên ký túc xá ai cũng biết chuyện anh đi tán tỉnh cô cấp dưỡng chỉ để mỗi khi vào lấy cơm, cô ấy cho nhóm cùng ăn cơm với anh thêm vài miếng cháy. Có người yêu là sinh viên nên dù buổi trưa ở thành phố nóng rực, cô cấp dưỡng vẫn má phấn môi son, mồ hôi ướt rịn chảy dài hai bên thái dương. Tôi thấy cô ấy cũng khá xinh, nước da trắng mịn màng, nụ cười luôn tươi tắn nở trên môi. Thế nhưng khi anh Dũng tốt nghiệp ra trường, anh đã quên luôn “mối tình hờ” ấy, ai cũng thương cho cô cấp dưỡng “nhẹ dạ, cả tin vào tình yêu”!
Thú vị nhất là vào mỗi dịp Tết xong, xuống ký túc xá, ai cũng có chút tiền lì xì, thế là chúng tôi ra chợ mua mắm cà. Dưa leo cùng cà pháo được thái lát ra trộn với mắm nêm và tỏi ớt sao mà ngon dữ. Tất nhiên khi cạn tiền, chúng tôi lại quay về với cơm nước tương và muối tiêu, vì chỉ có một gắp đậu của nhà bếp sao mà ăn đủ bữa. Thế mới thương các bạn nam sinh viên, thiếu đồ ăn thì họ lấy thêm “nước mắm” nhà bếp để sẵn ở các hũ sành. Gọi là nước mắm cho sang chứ thực tế chỉ là cơm cháy cho vào nước muối, có màu vàng, ai muốn chan bao nhiêu cũng được.
Nhưng niềm mong đợi lớn nhất của phòng một trăm lẻ một chúng tôi lại rơi vào chiều Chủ nhật và ngày thứ Hai hằng tuần, chúng tôi được “đổi gió” bằng món cá tra do những người bạn Long An khấp khởi mang từ nhà lên sau kỳ nghỉ ngắn ngủi, từng khúc cá tra béo ngậy, quyện với gia vị kho đậm đà của mẹ bạn ở quê, đã đủ sức mê hoặc lòng người. Thế là, những đứa học trò sơn cước cứ vô tư mà thưởng thức, ăn đến cạn cả nồi cơm mà lòng ngập tràn niềm vui.
Tôi nhớ lắm những câu chuyện xoay quanh những bữa cơm của sinh viên. Tôi có người bạn trong đội văn nghệ của trường. Bạn ấy hát rất hay. Ngặt nỗi, mỗi lần đi diễn, bạn không có cái áo đẹp để mặc lên sân khấu. Để có tiền mua vải may áo, bạn cắt hẳn phiếu ăn buổi chiều, chỉ để lại phiếu ăn buổi trưa. Mấy tháng như thế bạn mới may được một chiếc áo màu hồng phấn rất đẹp. Có mấy lần tôi rủ bạn ăn cơm chiều với tôi, bạn ái ngại không chịu ăn. Có những lần tôi thấy trán bạn ấy rịn mồ hôi, mặt tái nhợt, bạn nói với tôi: “Ngọc Lan ơi, tao đói lắm, đói đến mức tao không ngủ được!”. Bao nhiêu năm đã trôi qua, nhưng lời nói của bạn vẫn văng vẳng bên tai tôi, xót xa, nghẹn ngào.
Tựa như một bản nhạc với đầy đủ cung bậc, những bữa cơm sinh viên thời bao cấp dẫu có những nốt trầm buồn thương xót xa, nhưng cũng không thiếu những giai điệu réo rắt, ấm áp tình đời. Vượt lên trên tất thảy nhọc nhằn, điều đọng lại thiêng liêng nhất của một thời thanh xuân chính là tình nghĩa bạn bè nồng ấm, thủy chung. Trong ký ức của những ngày tháng gian khó ấy, dẫu có người bạn phải cắn răng bán đi nửa tháng phiếu ăn để đổi lấy tấm áo mỏng, đôi dép Lào, dẫu cơm nghèo thì trong thư viện ký túc xá, lúc nào cũng đông kín những bóng áo xanh say sưa bên trang sách.
Giữa muôn vàn thiếu thốn của những bữa cơm đạm bạc, ngọn lửa nhiệt huyết, khát vọng giảng đường và tình yêu cuộc sống vẫn vẹn nguyên, rực cháy trong tâm hồn những người sinh viên thời bao cấp chúng tôi năm nào, để giờ đây trong tôi là những niềm thương.