Thư viện di động diệu kì
Truyện ngắn 23/05/2026 09:30
Tôi tin rằng, chỉ cần nhìn những nắm cơm mang theo của học sinh là có thể vẽ được bản đồ địa lý kinh tế cấp huyện. Huyện tôi, một huyện nghèo, trũng nhất nằm phía Nam của tỉnh Nam Định cũ. Ngày ấy cây lúa chỉ trồng cấy được một vụ, điệp khúc thiếu ăn là triền miên. Bây giờ hồi tưởng lại nắm cơm ngày ấy thật tội nghiệp, cơm độn thêm khoai đã đành nhưng tỷ lệ độn cao quá, những hai phần khoai một phần gạo. Phải gọi là khoai nước khô cõng thêm hạt gạo, chứ không phải là gạo độn thêm khoai. Thế mà, khi thái nắm cơm ra từng lát, cắn ăn cũng ngon lành. Có phải đang tuổi ăn, tuổi lớn? Trưa muộn, bụng đói mềm, miếng ăn khô khốc cho vào miệng sao ngon đến thế? Có chuyện khi đói thì mầm đá cũng ngon kia mà. Miễn là có cái ăn cho ấm cái bụng đang lép kẹp, mỏng dán vào xương sống.
Định mức của nhà trường giao mỗi học sinh 250 viên gạch mộc trong một tuần. Chúng tôi ai cũng phải cố gắng hết sức. Hùng hục đào đóng, xúc nhào, quật xuống quật lên đống đất cao hơn người rồi dùng kéo cắt đất xẻ ra từng tảng, chất lên vai nhau, vác đến vị trí đập, vỗ vào khuân, đúc ra những viên gạch vuông vức. Nam cũng như nữ, thể hình thì thấp bé nhẹ cân, công việc lại nặng nhọc nhưng ai cũng làm với tinh thần thi đua. Giờ giải lao, thầy giáo mang kèn ác-mô-ni-ca (harmonica) thổi bài hát Lên Đàng của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Âm hưởng thôi thúc, khí thế sục sôi của bài hát kêu gọi thanh niên xung phong lên đường trên mọi mặt trận. Thầy giáo, cô giáo hầu hết vừa mới tốt nghiệp đại học Sư phạm, vào vai “đốc công” và hướng dẫn kỹ thuật làm gạch. Lạ thế! Ăn uống kham khổ, vừa học vừa lao động nhưng tuyệt nhiên không có ánh mắt thương cảm, hay vẻ mặt ủy mị nào ở đây. Chỉ thấy toát lên một không khí thi đua vì mái trường thân yêu. Mọi người đều như nhau, lao động là vinh quang kia mà. Phải công nhận công tác động viên, thi đua của nhà trường và xã hội rất tốt.
![]() |
| Minh họa TB Hiệp |
Nhà xa trường, học sinh hồi ấy đi bộ, chỉ một số ít bạn nhà khá hơn có xe đạp đi đến trường. Buổi lao động từ 13 giờ đến 16 giờ chiều mới nghỉ. Một đoàn dài học sinh quần áo lấm lem bùn đất ra về y như những người nông dân thực thụ. Vậy mà kết quả học tập của chúng tôi không hề kém. Nhiều bạn là học sinh giỏi, ngày ấy khối lớp nào cũng có đội tuyển học sinh giỏi các môn Toán, Lý, Hóa, Văn đi thi cấp huyện và tỉnh.
Trở lại với cây khoai nước, một cứu cánh của người dân quê tôi thời gian khó! Tôi không biết cây khoai nước kết thân với người nông dân từ bao giờ. Khi tôi lớn lên, cây khoai nước đã là cây lương thực chính, gần gũi cũng như cây lúa, cây ngô. Người nông dân vùng trũng không nghĩ là cơm độn khoai, đó là bữa ăn bình thường, hằng ngày. Khoai nước thì sao, nó cũng là thành phần tinh bột và chất xơ cung cấp năng lượng cho công việc nhà nông. Cây khoai nước có nhiều loại, có loại ăn ngứa lắm gọi là khoai dại (khoai ngứa dại) dùng nuôi lợn, mọc ở những nơi đất bùn, bờ nước, những nơi không cây gì ích lợi hơn là cây khoai làm thức ăn chăn nuôi. Bà nội kể chuyện năm đói Ất Dậu đến dải khoai dại cũng không có mà ăn. Có hai loại khoai nước trồng dùng cho người ăn. Cây khoai nước trắng và cây khoai nước tía riềng. Khoai nước trắng trồng năng suất cao nhưng củ ăn không ngon vì sượng. Cây khoai nước tía riềng củ có lòng vàng, ăn đậm dẻo bùi thơm và bở. Ruộng trũng không trồng được lúa ngô thì trồng khoai nước. Ban đầu là con khoai (cây giống) cắm xuống đất có rải một lớp lá xoan bón lót, cây bén rễ nhanh, rồi đẻ nhánh. Cây con bám xung quanh cây mẹ, chúng cho những củ to như nắm tay người lớn. Trồng cây khoai nước, việc chăm bón cũng rất đơn giản. Nó y như con cái của nhà nông vậy, cứ bám vào đất mà lớn lên. Dịp đầu năm nhà nào cũng tích cực làm đất, mong sớm cắm được con khoai xuống. Đến tháng 9 củ khoai nước có thể ăn được rồi. Có nhà phải đi đào khoai sớm về ăn vì thiếu ăn do nhà đông con. Câu chuyện về khoai nước mặc nhiên chen vào cuộc sống. Vụ này nhà ai có ruộng khoai tốt? Vụ này nhà ai khoai kém? Có cụ ông kể: “Trưa đi cày về cắn miếng khoai nước vàng như nghệ, bùi dẻo, đậm đà như cắn lòng đỏ trứng gà”. Có bà lại nói: “Và miếng cơm khoai vào miệng, bùi ngon như ăn xôi đỗ. Không có ai kêu ca, phàn nàn gì về cơm quanh năm độn khoai”.
Cây khoai nước hình như được ông Trời trao cho vinh dự hiến thân làm thực phẩm cho người nông dân. Không phải bỏ đi thứ gì, củ người ăn, dọc lá và rễ làm thức ăn cho lợn. Nuôi lợn, cho ăn dọc cây khoai nước cho thịt thơm ngon. Ấn tượng nhất là hoa khoai nước kho với cá bống đen, đó là một sự kết hợp hài hòa, thứ này tôn vinh thứ kia và ngược lại. Hoa khoai nước kho với cá bống đen ngấm chất đạm, béo từ cá, ăn vị bùi ngọt, dẻo dai, thơm ngon, lan tỏa trong miệng chất nắng gió nội đồng. Búp khoai nước nấu canh chua cũng rất tuyệt…
Con đường làng tôi được đắp bằng đất thịt, cứ mưa là lầy lội và trơn như đổ mỡ. Chiều chiều những gánh khoai từ ngoài ruộng gánh về, ngón chân bấm đường trơn cùn cả móng, nhưng lòng thì vui vì tối nay bên nồi khoai luộc thơm bốc khói cả nhà ấm bụng đi ngủ sau một ngày vất vả đồng ruộng.
Ngày nay do biến đổi khí hậu, ruộng trũng thoát úng trở thành ruộng khô, một năm trồng cấy hai, ba vụ lúa. Củ khoai nước bỗng thành của hiếm, nó đã làm xong sứ mệnh ông Trời trao và yên lòng lùi xa về quá khứ. Người dân quê tôi vẫn bảo nhau rằng, họ luôn biết ơn cây khoai nước đã cưu mang họ đi qua một thời gian khó.