Mối hàn của thời gian
Truyện ngắn 31/05/2026 10:00
Lớp trẻ ngày nay lớn lên trong điều kiện vật chất đầy đủ hơn rất nhiều. Chỉ cần chịu khó học hỏi, nỗ lực cố gắng thì những ước mơ đều có thể với tới. Bởi giờ đây, từ thông tin, giao thông đến mọi phương tiện phục vụ cuộc sống đều phát triển nhanh chóng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của con người. Mọi thứ thật khác xa so với thời của chúng tôi ngày xưa.
Tôi sinh ra và lớn lên ở một thị xã nhỏ bé. Gần sáu mươi năm trôi qua, nơi tôi sống đã thay đổi rất nhiều. Từ một thị xã bình dị, giờ đã trở thành một đô thị khang trang, với siêu thị, khu công nghiệp, khu dân cư mọc lên ngày một đông đúc.
Nhà tôi ở ngay mặt đường. Hồi đó cả dãy chỉ có chừng mươi nóc nhà, mái lá xen lẫn mái ngói. Mỗi khi mưa lớn, đêm nằm nghe nước dột từng giọt xuống giường, lũ trẻ chúng tôi khó mà ngủ ngon. Những ngày bão về, chuyện nửa đêm nhà nọ chạy sang nhà kia tránh bão là điều rất quen thuộc. Điều đáng quý là hàng xóm khi ấy sống với nhau chân tình lắm. Nhà nào chắc chắn hơn đều sẵn lòng nhường cho người khác một chỗ trú ấm áp.
Ngày ấy, phương tiện đi lại chủ yếu là đi bộ hoặc xe đạp. Tôi chỉ cần nhìn ra cửa là biết ai vừa đi qua. Còn bây giờ xe cộ di chuyển như mắc cửi, cố gắng nhìn đến hoa cả mắt cũng khó nhận ra người quen.
![]() |
| Minh họa TB Hiệp |
Gia đình tôi không có ruộng nên không trồng lúa mà chủ yếu nguồn thu nhập đến từ việc nuôi gia súc, gia cầm. Những khoảng đất trống đều được tận dụng để trồng rau. Con mương đào gần nhà biến thành nơi thả bèo, trồng rau muống. Đến cả những hố vôi bỏ không cũng được cải tạo để nuôi cá, nuôi ốc, ếch, lươn, chạch.
Hồi đó, lũ trẻ chúng tôi đi học một buổi, buổi còn lại phụ giúp gia đình tăng gia sản xuất. Tuy vất vả nhưng nghĩ lại vẫn thấy vui. Vì là thời bao cấp nên muốn mua gì cũng phải xếp hàng. Mua gạo phải có sổ gạo. Ngày ấy, sổ gạo quý lắm, người ta còn ví: “Mất như mất sổ gạo”, bởi đó gần như là nguồn sống của cả gia đình.
Lũ trẻ chúng tôi ngày ấy không có nhiều quà bánh như bây giờ nên bữa cơm nào cũng ăn rất khỏe. Tôi năm mười bốn tuổi có thể ăn bốn, năm bát cơm đầy. Em trai tôi kém một tuổi, có khi ăn hết cả một bơ đong gạo (cân lên được tầm tám lạng). Gạo mậu dịch để lâu nên thường ngả vàng, đôi khi hơi mốc, nhưng được cái nở, nhà đông con ăn cũng đỡ hao. Cửa hàng nhiều khi còn bán kèm với gạo là mì sợi khô hoặc bo bo để ăn cho no bụng. Bo bo cứng ngắc, người già nhiều khi nhai không nổi.
Nhà bác hàng xóm bên cạnh đông con, có tháng chưa đến cuối tháng đã hết gạo. Bác lại mang cái rá sang nhà tôi, ngại ngùng hỏi mẹ vay vài lon gạo cầm bữa. Mẹ tôi chẳng bao giờ đắn đo, cứ lặng lẽ mở thùng gạo san sẻ. Thời bao cấp ai cũng thiếu, nhưng tình làng nghĩa xóm thì chưa bao giờ vơi.
Những nhu yếu phẩm cần thiết như thịt, vải vóc, quần áo đều được phát theo tem phiếu. Mỗi phiếu là những ô vuông nhỏ chia theo từng tháng. Mỗi lần mua hàng, cô mậu dịch viên lại cắt đi một ô.
Tôi nhớ có lần mẹ nhờ người quen trong cửa hàng để dành cho một chiếc áo len nữ màu đỏ hoa mười giờ đẹp vô cùng. Để mua được chiếc áo ấy, mẹ phải dùng đến tem phiếu của cả nhà.
Ngày mẹ mặc chiếc áo ấy, trông mẹ tươi tắn và trẻ trung hẳn lên. Bố tôi cứ nhìn mãi không thôi. Nhưng mẹ chỉ mặc trọn một cái Tết năm ấy, rồi tháo chiếc áo ra, thức khuya nhiều đêm để đan thành ba chiếc áo gile. Tôi và em gái mỗi người được một chiếc, mẹ giữ cho mình chiếc còn lại. Dù chiếc áo của mẹ không còn nguyên vẹn như trước, nhưng nụ cười trên gương mặt mẹ hôm ấy thật rạng rỡ. Sau này tôi lớn hơn, áo cũ đã chật. Mẹ dẫn tôi ra cửa hàng mua một chiếc áo dạ màu xanh thiên lý rất đẹp. Tôi thích lắm, nhưng biết phải cắt gần hết tem phiếu của cả nhà nên không nỡ, đành bảo mẹ: “Thôi mẹ ạ, để lần sau có áo ít tem hơn thì mua.” Mẹ lặng im cùng tôi ra về. Nhưng đi được một đoạn, mẹ lại quay xe, nhất quyết quay lại mua cho tôi. Tiếc là chiếc áo đẹp nhất đã bán mất, chỉ còn chiếc màu xanh xám. Dù không phải màu tôi thích, nhưng khi mặc vào, tôi vẫn thấy thật ấm. Bởi trong đó gói gọn cả tình thương của mẹ.
Những ngày đi mua gạo, mua thịt, mua mắm muối thật sự là một thử thách. Tôi thường được phân công dậy từ bốn, năm giờ sáng để đi giữ chỗ. Người ta xếp hàng bằng viên gạch, đôi dép hay chiếc mũ rồi nhích dần lên. Mùa hè còn đỡ, mùa đông mới thật khổ. Co ro trong manh áo mỏng, tay chân tê cóng mà vẫn phải đứng chờ. Nhiều hôm xếp hàng gần đến lượt thì hết hàng. Buồn lắm. Nhưng hôm nào mua được chút thịt, ít gạo hay chai nước mắm mang về, cả nhà lại vui như có hội.
Nhắc đến tuổi thơ thời bao cấp, điều tôi nhớ nữa là tiếng loa phường mỗi buổi sáng. Khoảng năm giờ, tiếng nhạc hiệu quen thuộc lại vang lên khắp thị xã, rồi đến giọng đọc truyền thanh đều đều báo tin tức, thông báo họp tổ dân phố hay nhắc nhở mọi người giữ gìn vệ sinh chung. Nhiều hôm đang ngủ ngon cũng bị đánh thức, lũ trẻ chúng tôi còn trùm chăn than thở, nhưng nghe mãi rồi thành quen. Đến tận bây giờ, mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn thấy tiếng loa phường như một phần ký ức không thể thiếu của tuổi thơ mình.
Vì sống ở thị xã nên chúng tôi còn có một niềm vui mà nhiều đứa trẻ vùng quê khi ấy không có, đó là được đi xem phim ở rạp chiếu bóng. Nhưng để mua được một tấm vé đâu có dễ. Có khi phải chen chúc rất lâu mới nhích được từng bước. Hôm nào mua được vé, được ngồi trong rạp xem phim thiếu nhi thì vui suốt cả tuần. Còn hôm nào không mua được, chị em tôi lại lủi thủi dắt nhau về, buồn thiu.
Cũng may, vài tháng lại có một tối được xem phim chiếu ngoài bãi đất trống. Chỉ cần nghe loa phường thông báo tối nay có chiếu phim là chị em tôi mừng quýnh, cơm nước xong là cầm ghế con chạy đi ngay, sợ đến muộn không còn chỗ đẹp. Có hôm đang xem đến đoạn gay cấn thì mất điện, cả bãi phim cùng ồ lên tiếc nuối, rồi lại kiên nhẫn ngồi chờ.
Ký ức đẹp nhất của tuổi thơ tôi có lẽ là mỗi dịp Tết đến. Những ngày giáp Tết, xí nghiệp nơi bố tôi làm việc lúc nào cũng rộn ràng tiếng cười nói. Công nhân viên được chia chút thịt, chút thực phẩm mang về chuẩn bị Tết. Mọi người rủ nhau gói bánh chưng, làm bánh gai, bánh nếp, bánh mật… Không khí náo nức lan khắp nơi.
Nhà tôi cũng như bao gia đình khác trong thị xã, bố thường mua một cây quất nhỏ hoặc một cành đào xinh xắn đem về đặt trong nhà. Trên bàn có vài hộp bánh mứt để tiếp khách. Chị em tôi đứa nào cũng được mẹ may cho một bộ quần áo mới, thêm đôi dép mới để diện Tết. Đêm giao thừa là khoảnh khắc mong chờ nhất. Tiếng bánh pháo, pháo tép nổ đì đùng khắp các con phố. Cả thị xã như bừng lên trong sắc xuân, trong tiếng cười và niềm háo hức.
Ký ức thời bao cấp càng viết lại càng ùa về, như những thước phim cũ chậm rãi hiện ra trước mắt. Tôi nhớ đến những con búp bê xinh xắn được đặt sau tủ kính cửa hàng mậu dịch, lũ trẻ chỉ biết đứng ngắm mà mơ ước. Những sáng thèm một bát phở, mẹ phải dậy từ tinh mơ xếp hàng mua về một, hai bát cho cả nhà chan cơm. Chỉ cần ngửi thấy mùi nước dùng thơm phức thôi cũng đã thấy ngon. Đến những ngày hè oi ả, mẹ nấu nồi chè đỗ đen rồi sai chị em tôi đi mua đá lạnh. Đi qua vài quán, dù họ vẫn treo biển bán đá lẻ, nhưng khi hỏi mua thì chủ quán chỉ lắc đầu bảo hết, chị em tôi lại tiu nghỉu ra về. Thỉnh thoảng tiếng còi “toe toe” của người bán kem vang lên đầu ngõ, cả lũ trẻ lại ùa ra nhìn theo. Những khi chẳng có tiền mua, chỉ đứng ngắm thôi cũng thấy vui. Ngay cả một viên kẹo bột bọc giấy màu, ăn vào vừa ngọt vừa thơm, cũng đủ để lũ trẻ chúng tôi nâng niu mãi.
Thời bao cấp đã lùi xa, cuộc sống hôm nay đủ đầy hơn rất nhiều. Nhưng mỗi lần nhớ lại, điều còn đọng mãi trong tôi không phải là sự thiếu thốn, mà là tình người, tình thân và những niềm vui giản dị đã nuôi lớn cả một tuổi thơ.