Năm nào cũng vậy, cứ gần Tết là ông Hùng lại về đây thắp hương cho những người đồng đội đã nằm lại. Họ cùng nhập ngũ năm 20 tuổi. Ngày ấy ai cũng trẻ, ai cũng tin rằng chiến tranh rồi sẽ qua, sẽ có ngày trở về dựng nhà, cưới vợ, sinh con. Nhưng không phải ai cũng có ngày trở về. Hùng đặt bó hoa cúc xuống hàng mộ quen thuộc. Ông châm từng nén nhang, khấn rất nhỏ.
- Anh em ơi, tôi lại về thăm đây...
Đang lúi húi cắm nhang, ông nghe phía sau có tiếng gọi dè dặt.
- Có phải... Hùng, Đại đội 3 không?
Ông quay lại. Trước mặt là một người đàn ông gầy, chống gậy. Gương mặt nhăn nheo nhưng đôi mắt vẫn sáng. Hai người nhìn nhau thật lâu. Bất chợt, cả hai cùng reo lên.
- Lâm!
- Hùng!
Hai người ôm chầm lấy nhau như những chàng trai 20 tuổi năm nào. Cả hai đều không nói được câu gì vì nước mắt đã chảy từ lúc nào. Hơn 40 năm kể từ trận đánh ở bờ suối năm ấy. Lâm mất một chân vì trúng mảnh pháo. Sau khi điều trị, ông về quê, nghe tin đơn vị giải thể rồi bặt tin đồng đội. Còn Hùng tiếp tục chiến đấu đến ngày đất nước thống nhất mới xuất ngũ. Hai người ngồi xuống chiếc ghế đá dưới gốc phượng già. Lâm cười.
![]() |
| Ảnh minh hoạ Bá Hiệp |
- Tưởng cậu quên hết anh em rồi.
Hùng lắc đầu.
- Quên sao được. Chỉ là không biết tìm ở đâu.
Họ nhắc tên từng người trong đại đội. Thắng “sẹo”, người hay hát. Đức “đen”, bắn súng giỏi nhất đơn vị. Cường, người nhỏ nhất nhưng luôn xung phong đi đầu. Có người còn sống, có người đã mất và có người chẳng biết lưu lạc nơi nào. Mỗi cái tên được nhắc lên đều kéo theo một kỷ niệm. Khi thì cả hai cười thành tiếng vì chuyện ngày xưa nhịn đói hái trái rừng. Khi thì cả hai im lặng rất lâu vì nhớ đến người vừa trò chuyện buổi sáng thì chiều đã hy sinh.
Gió thổi làm khói hương bay nhè nhẹ. Hai người lính già ngồi cạnh nhau rất lâu. Không ai nhắc đến chiến công hay huân chương. Điều họ nhớ nhất chỉ là những gương mặt bình dị đã từng cùng chia nhau nắm cơm, ngụm nước và sẵn sàng lấy thân mình che cho đồng đội. Bởi với họ, sau ngần ấy năm, điều còn lại quý nhất vẫn là hai tiếng đồng đội.
* *
Sáng hôm sau, Hùng sang nhà Lâm từ rất sớm. Căn nhà cấp bốn nằm nép dưới hàng tre cuối xóm. Lâm chống gậy ra mở cổng, miệng cười hiền.
Hai người ngồi uống trà. Lâm lấy trong tủ ra một chiếc hộp gỗ đã cũ. Ông mở nắp rất chậm. Bên trong là vài tấm ảnh đen trắng, một chiếc bật lửa méo mó, mấy lá thư đã ngả màu và một cuốn sổ nhỏ bọc bằng vải dù. Hùng cầm cuốn sổ lên, nhận ra ngay.
- Nhật ký của thằng Cường?
Lâm gật đầu.
- Hôm nó hy sinh, tôi nhặt được trong ba lô. Tính sau giải phóng sẽ mang về cho gia đình nó, nhưng rồi chiến sự liên miên, thất lạc tin tức. Bao nhiêu năm nay tôi vẫn giữ. Hùng lật từng trang giấy đã úa vàng. Nét chữ của Cường vẫn còn rõ. “Nếu ai còn sống trở về, nhớ ghé thăm má tôi. Bà chỉ có mình tôi”. Đọc đến đó, cả hai cùng lặng người.
Hùng khẽ hỏi:
- Cậu có biết quê Cường ở đâu không?
- Chỉ nhớ mang máng là một xã ven biển miền Trung. Hồi ấy nó kể nhiều, nhưng chiến tranh qua lâu quá rồi.
Hai người ngồi im. Một lát sau, Lâm lấy thêm một tấm ảnh. Đó là bức ảnh chụp cả tiểu đội trước ngày hành quân. Mười một người đứng sát vào nhau, ai cũng gầy nhưng ánh mắt rạng rỡ. Phía sau, Cường cười rất tươi, còn Hùng và Lâm đứng cạnh nhau. Hùng vuốt nhẹ góc ảnh đã sờn.
- Mỗi lần nhìn tấm ảnh này, tôi cứ nghĩ mình còn nợ anh em điều gì đó.
- Nợ gì?
- Nợ một lần gặp lại đầy đủ. Dù biết chẳng bao giờ có được.
Hùng nhìn ra khoảng sân đầy nắng.
- Không gặp đủ thì mình đi thăm từng nhà. Ai còn sống thì gặp. Ai mất rồi thì thắp cho họ nén nhang. Còn gia đình của những người đã hy sinh, mình thay anh em đến hỏi thăm.
Lâm ngẩng lên.
- Cậu cũng nghĩ vậy sao?
- Ừ. Mình già rồi. Nếu không đi bây giờ, sợ sau này chẳng còn sức nữa.
Ánh mắt Lâm bỗng sáng hẳn. Bao năm qua, ý nghĩ ấy vẫn nằm trong lòng ông nhưng chưa một lần dám thực hiện. Hai người trải tấm bản đồ cũ lên bàn. Trên đó, Hùng dùng bút chì ghi lại tên từng đồng đội mà mình còn nhớ. Bên cạnh là quê quán, địa chỉ cũ, những mẩu thông tin ít ỏi được góp nhặt từ ký ức. Có người ở Quảng Trị, có người tận Đồng Tháp và có người nghe nói đã chuyển lên Tây Nguyên lập nghiệp. Danh sách chưa đầy một trang giấy, nhưng chứa cả một quãng đời tuổi trẻ. Hùng gấp cuốn sổ của Cường lại, nói chậm rãi:
- Chuyến đi này không chỉ để tìm anh em. Mình còn phải đưa cuốn nhật ký này về đúng nơi của nó.
* *
Một tuần sau, Hùng và Lâm lên đường. Hành trang của hai người chỉ có vài bộ quần áo, cuốn sổ tay cũ, tấm ảnh chụp cả tiểu đội và quyển nhật ký của Cường được bọc cẩn thận trong túi vải. Điểm đến đầu tiên là quê của Thắng “sẹo”. Mất gần nửa ngày đi xe khách rồi thêm một quãng đường xe ôm, hai người mới tìm được ngôi nhà nhỏ nằm bên con sông.
Thắng vẫn còn sống. Ông già hơn nhiều so với tuổi. Mái tóc bạc trắng, lưng hơi còng. Vừa nhìn thấy Hùng, Thắng đứng sững ngoài sân. Ông dụi mắt mấy lần rồi chạy vội ra. Ba người đàn ông ôm lấy nhau, chẳng ai nói được câu nào. Mãi một lúc sau, Thắng mới cười mà nước mắt vẫn còn lăn trên má.
- Tưởng chỉ còn mình tôi nhớ mấy ông.
Cả buổi chiều hôm ấy, căn nhà nhỏ rộn tiếng cười. Họ kể chuyện cũ. Chuyện những đêm hành quân giữa rừng, chuyện chia nhau từng bi đông nước, từng nắm cơm vắt. Thắng vẫn còn nhớ lần Hùng sốt rét đến mê man, cả tiểu đội thay nhau cõng suốt hai ngày đường. Hùng thì nhớ như in lần Thắng bị thương ở vai nhưng vẫn cố cõng một đồng đội vượt qua bãi trống. Những câu chuyện cũ, mỗi người nhớ một chút. Ghép lại, cả một thời tuổi trẻ như hiện ra trước mắt.
Chiều xuống, Hùng lấy tấm ảnh cũ đặt lên bàn. Ba người lặng đi. Mười một gương mặt trẻ trung ngày ấy giờ chỉ còn ba người đang ngồi đây. Thắng chỉ tay vào Cường.
- Thằng nhỏ này hiền nhất đơn vị.
Hùng lấy cuốn nhật ký ra.
- Tôi với Lâm đang tìm gia đình nó để trao lại.
Thắng nhìn rất lâu rồi nói:
- Tôi nhớ rồi. Quê nó ở một làng ven biển. Hồi đó nó hay kể nhà có rặng phi lao, trước sân có cây dừa bị sét đánh. Hình như... xã Hải An.
Lâm mừng ra mặt.
- Thế là có thêm manh mối.
Sáng hôm sau, ba người chia tay.
Rời nhà Thắng, họ tiếp tục chuyến đi. Đến nơi thứ hai, họ chỉ gặp người con trai của Đức “đen”. Đức đã mất vì bạo bệnh cách đây ba năm. Người con mang ra chiếc ba lô cũ của cha. Bên trong vẫn còn chiếc ca nhôm đã móp, chiếc võng dù bạc màu và một bức ảnh chụp chung với đồng đội. Anh nói:
- Trước lúc mất, ba tôi dặn nếu có ai trong đơn vị ghé thì gửi lời xin lỗi.
Hùng ngạc nhiên.
- Xin lỗi chuyện gì?
- Ba bảo ngày hòa bình, ai cũng lo làm ăn, nuôi con nên chẳng còn tìm được nhau. Ba vẫn day dứt vì điều đó.
Nghe đến đây, Lâm quay mặt nhìn ra sân. Ông không muốn ai thấy mắt mình đỏ. Rời khỏi căn nhà ấy, hai người đi rất chậm.
* *
Con đường dẫn vào làng ven biển phủ đầy cát trắng. Hai người hỏi thăm mãi mới tìm được căn nhà nằm khuất sau hàng dâm bụt. Người phụ nữ ngoài 60 ra mở cổng.
- Đây có phải nhà của anh Cường từng đi bộ đội không?- Hùng hỏi:
Bà lặng đi. Một lúc sau, bà mới khẽ đáp:
- Tôi là chị gái của Cường.
Mẹ tôi mất đã hơn 10 năm rồi. Bà luôn mong có ngày anh trở về. Không khí bỗng chùng xuống.
Hùng chậm rãi lấy cuốn nhật ký trong túi vải, hai tay nâng lên.
Người chị gái ôm lấy cuốn sổ rồi bật khóc. Bà vuốt từng trang giấy như sợ làm rách. Có những dòng chữ bà đọc thành tiếng, có những dòng bà chỉ nhìn rồi lặng lẽ lau nước mắt.
- Đây đúng là nét chữ của em tôi...
- Bao nhiêu năm rồi... cuối cùng em cũng về nhà.
Hùng và Lâm thắp nén nhang lên bàn thờ. Trên di ảnh, Cường vẫn là chàng trai tuổi đôi mươi với nụ cười hiền lành. Hùng đứng rất lâu trước bàn thờ. Ông nói nhỏ:
- Anh em đến thăm cậu rồi, Cường à. Chúng tôi giữ lời hứa muộn, nhưng cuối cùng cũng làm được.
- Mẹ tôi trước lúc mất có dặn, nếu một ngày đồng đội của anh Cường tìm đến thì gửi lại thứ này.
Trong hộp là chiếc khăn tay màu xanh đã cũ. Góc khăn được thêu bằng chỉ đỏ dòng chữ: “Bình an trở về”.
Lâm cầm chiếc khăn, đôi tay run run. Ông chợt hiểu, chiến tranh kết thúc đã lâu, nhưng sự chờ đợi của những người ở lại chưa bao giờ khép lại.
Chiều hôm ấy, Hùng và Lâm ra bãi biển. Hùng lấy trong túi tấm ảnh cũ của tiểu đội.
- Người còn, người mất... nhưng anh em mình vẫn gặp lại nhau.
Lâm mỉm cười.
- Đồng đội đâu chỉ là những người cùng chiến đấu. Đồng đội là người mình nhớ suốt cả cuộc đời.
Hai ông già ngồi lặng bên biển đến khi hoàng hôn tắt hẳn. Trên đường trở về, Hùng cẩn thận cất tấm ảnh vào túi áo ngực. Ông biết rồi đây, năm sau và nhiều năm sau nữa, nếu còn đủ sức, ông vẫn sẽ trở lại nghĩa trang, vẫn thắp những nén hương cho những người đã nằm xuống.
Nhưng lần trở lại ấy, trong lòng ông sẽ nhẹ hơn. Bởi lời hẹn năm xưa của những người lính trẻ cuối cùng cũng được thực hiện. Chiến tranh đã lùi xa, tóc của những người còn sống đã bạc trắng. Dòng thời gian có thể làm phai màu quân phục, làm cũ những tấm ảnh, làm úa những trang nhật ký. Nhưng có một điều không bao giờ cũ. Đó là tình đồng đội. Một tình cảm giản dị, lặng lẽ mà bền chặt, đủ sức theo con người đi hết cả một đời.
Tin liên quan
Tin tức bạn quan tâm
Bình thơ - Bài thơ "Khát khao mùa Hạ" của tác giả Vũ Phong
Thơ dự thi "Tâm tình người cao tuổi" năm 2025 của tác giả Nguyễn Bá Thuyết
Thơ dự thi "Tâm tình người cao tuổi" năm 2025 của tác giả Phạm Thị Hải
Bình thơ - Bài thơ "Ta về" của tác giả Nguyễn Bích Ngọc
Thơ dự thi "Tâm tình người cao tuổi" năm 2025 của tác giả Đỗ Văn Yến
Thơ dự thi "Tâm tình người cao tuổi" năm 2025 của tác giả Chung Tiến Lực
Bình thơ - Bài thơ "Khát thèm" của tác giả Phạm Bá Hà

