Danh mục
THEO DÕI TRÊN: Facebook Youtube Tiktok
tien-toi-dai-hoi-vii

Bình thơ - Bài thơ "Xuống đò" của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý

Bài thơ “Xuống đò” của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý, không chỉ là một chuyến du ngoạn trên sông Hương, mà là một cuộc hành trình đi sâu vào tâm hồn và cốt cách của xứ Huế. Bài thơ như một bản nhạc nhẹ nhàng, dẫn dắt người đọc len lỏi qua từng lớp tầng văn hóa, lịch sử và cảm xúc.
+
aa
-

Xuống đò để biết sông Hương

Thơm thao câu lý mười thương xuôi dòng

Thượng huyền gác mái cong cong

Trăng khuya cũng nét Huế trong cung đàn

Gảy lên, xuôi ngược, hợp tan

Binh đao mấy đận hoang tàn cố đô

Bây chừ nón vẫn bài thơ

Áo sông vẫn tím như chờ đợi tôi

Xuống đò phác nét xa xôi

Mấy trăm năm Huế một trời thi ca

Một em chẳng lụy ngọc ngà

Một tôi trở lại la đà si mê

Chao ơi, đến Huế là về

Cõi thơ, em với dãi dề sông Hương

Chao ơi, đến Huế là thương

Thương từ tiếng "Dạ" gió sương nhẹ lành

Mong đừng kiếm dựng trời xanh

Hương Giang cứ rứa để dành cho nhau

Bận lòng chi chuyện nông sâu

Dòng rung phách nhịp lâu lâu xuống đò...


Ngay từ những câu đầu, tác giả đã dùng khứu giác để cảm nhận vẻ đẹp vẻ thơ mộng của Huế: "Xuống đò để biết sông Hương/ thơm thao câu lý mười thương xuôi dòng". Sông Hương không chỉ có nước, mà còn có "mùi thơm" của những làn điệu dân ca. Hình ảnh "Trăng khuya cũng nét Huế trong cung đàn và "mái cong cong" gợi lên một không gian kiến trúc và thiên nhiên hòa quyện, nơi thời gian như ngừng lại để nhường chỗ cho cung đàn, nhịp phách.

Nguyễn Hữu Quý không quên cái nền trầm mặc của cố đô. Đằng sau vẻ yên bình hôm nay là "binh đao mấy đận hoang tàn". Tuy nhiên, sự tàn khốc của thời gian và chiến tranh không làm mất đi bản sắc Huế. Hình ảnh chiếc "nón bài thơ" và màu "áo sông tím" như một lời khẳng định về sự vĩnh cửu của tâm hồn Huế - một vẻ đẹp bền bỉ, thủy chung.

Bình thơ - Bài thơ

Cái hay của bài thơ nằm ở sự "si mê" của nhân vật trữ tình. Tác giả không đứng ngoài quan sát mà thực sự hòa mình vào đó: "Một em chẳng lụy ngọc ngà/ Một tôi trở lại la đà si mê". Chữ "la đà" dùng rất khéo, nó vừa gợi vẻ say sưa của người viễn khách, vừa gợi cái bảng lảng của mây trời sông nước. Huế trong mắt tác giả không phải là sự xa hoa của lăng tẩm, mà là cái tình trong tiếng "dạ" ngọt ngào, là sự "nhẹ lành" của gió sương.

"Chao ơi, đến Huế là thương/ Thương từ tiếng "Dạ" gió sương nhẹ lành". Đây là một chi tiết rất nhỏ nhưng lại là "linh hồn" của cách ứng xử người dân xứ Huế, được Nguyễn Hữu Quý cảm nhận đầy tinh tế. Trong tiếng Việt, từ "dạ" là một thưa gửi lễ phép, nhưng với người Huế, nó không chỉ là phép lịch sự mà còn là một di sản văn hóa. Tiếng "dạ" ấy mang theo cả sự dịu dàng, khiêm cung và một chút gì đó rất "tĩnh". Tác giả không dùng từ "nghe" mà dùng từ "thương". Cái thương này bắt nguồn từ sự rung động trước một nét đẹp vô hình nhưng có sức lay động mạnh mẽ hơn cả những lăng tẩm đền đài đồ sộ.

Hình ảnh này gợi lên những vất vả, thăng trầm của lịch sử và đời người. Huế là vùng đất của thiên tai, của những biến động "binh đao mấy đận". Tiếng "dạ" ấy đã đi qua bao mùa gió bão, bao khổ cực của cuộc sống. Dù đi qua gió sương, tiếng "dạ" vẫn giữ được sự "nhẹ" (thanh thản, không nặng nề toan tính). Tác giả muốn nói rằng, dù cuộc sống có khắc nghiệt đến đâu, người Huế vẫn giữ được vẻ đẹp nhân văn trong giao tiếp. Cái "nhẹ lành" đó chính là sức mạnh nội tâm để đối diện với nghịch cảnh. Tiếng "dạ" ấy cũng giống như dòng nước Hương Giang; lững lờ, chậm rãi và không bao giờ ồn ào.

Khổ thơ cuối là một lời nhắn nhủ đầy bao dung: "Mong đừng kiếm dựng trời xanh". Đó là khát vọng hòa bình, là mong muốn giữ cho Hương Giang mãi là dòng sông của thơ ca, của tình yêu. Tác giả khuyên người ta đừng quá bận lòng chuyện "nông sâu" (những toan tính, thị phi ở đời), mà hãy cứ thả hồn theo nhịp phách, để tâm hồn mình được thanh thản khi "xuống đò".

Bài thơ có nhịp điệu lục bát uyển chuyển, ngôn từ đậm chất Huế nhưng cũng rất hiện đại. Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đã vẽ nên một bức tranh Huế vừa có chiều sâu lịch sử, vừa có nét duyên dáng của hiện tại, làm say lòng bất cứ ai từng yêu hoặc chưa một lần đến với dòng sông Hương.

Lời bình: Quốc Lập
Tags: bình thơ

Tin liên quan

Tin tức bạn quan tâm

Bình thơ - Bài thơ "Khát thèm" của tác giả Phạm Bá Hà

Đồng đội cũ

Chiều cuối năm, trời se lạnh. Những cơn gió từ cánh đồng thổi về mang theo mùi rơm mới và hơi đất sau mấy ngày mưa. Trên con đường dẫn vào nghĩa trang liệt sĩ huyện, một người đàn ông tóc đã bạc quá nửa chậm rãi bước đi. Chiếc áo lính cũ được ông mặc cẩn thận, tuy màu đã phai nhưng từng nếp gấp vẫn ngay ngắn.
Bình thơ - Bài thơ "Khát thèm" của tác giả Phạm Bá Hà

Rưng rưng nhớ bát cơm quy phần

Thời kì bao cấp hàng hóa đều bán theo chế độ phân phối và bán theo phân phối. Phiếu vải bình quân mỗi nhân khẩu bốn mét, nhưng cuối năm nhà nào cũng thừa. Khi có tiền thì cửa hàng không có vải, khi có vải lại không tiền. Quần áo vá đi vá lại là chuyện thường tình.
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9