Bác bỏ luận điệu hiện đại hóa quân đội là “chạy đua vũ trang”
Nghiên cứu - Trao đổi 28/05/2026 10:39
NCT ở nước ta chủ yếu sống ở nông thôn, đa số không có thu nhập thường xuyên. Trong số NCT tại Việt Nam, khoảng 40% NCT được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội, chính sách đối với người có công và trợ cấp xã hội; 60% còn lại sống dựa hoàn toàn vào kinh tế của mình và gia đình. Khoảng 6 triệu người không có thu nhập ổn định. Tỷ lệ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội đối với NCT có nơi còn rất hạn chế và có sự khác biệt giữa các nhóm NCT, các vùng miền. Tuổi thọ, khỏe mạnh ngày càng cao, nên nhiều NCT có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc (trong số 100 NCT thì có 38 người tham gia lực lượng lao động).
Theo số liệu tổng hợp, có khoảng 4,5 triệu NCT tham gia lực lượng lao động, chiếm gần 8% lực lượng lao động của cả nước. Khu vực nông thôn, lực lượng lao động cao tuổi chiếm 9,2%, còn ở đô thị, tỉ lệ này là 5,2%. Năm 2020, số NCT có việc làm chiếm 8,7% tổng số lao động có việc làm của cả nước, với khoảng 4,7 triệu người. Một đặc điểm là phụ nữ tham gia lực lượng lao động gần ngang bằng với nam giới (tỉ lệ nữ trong lực lượng lao động của cả nước là 47,3%).
![]() |
Quyền được làm việc là một quyền cơ bản của con người, đã được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế cũng như trong pháp luật Việt Nam. Năm 1991, Liên Hợp Quốc đã đề xướng 5 nguyên tắc về NCT, trong đó có nguyên tắc “NCT cần có cơ hội được làm việc và được tiếp cận các cơ hội tạo thu nhập khác”…
Tại Việt Nam, quyền làm việc là một quyền cơ bản của công dân Việt Nam được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 “công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp việc làm và nơi làm việc” và hưởng các điều kiện lao động công bằng và không bị phân biệt đối xử vì độ tuổi. Hiến pháp cũng hiến định NCT được xã hội tôn trọng và tạo điều kiện phát huy vai trò: “Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò của NCT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Luật NCT năm 2009 đã dành những quy định bảo đảm NCT được tạo điều kiện phát huy vai trò, kiến thức và kinh nghiệm, “NCT được tạo điều kiện làm việc phù hợp với sức khoẻ, nghề nghiệp và các điều kiện khác để phát huy vai trò NCT”; Khoản 1, điều 148 Bộ luật Lao động quy định “Người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi nghỉ hưu theo luật định” và các điều khoản tại mục 2, chương XI, điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo lộ trình tăng dần (đến 2028 nghỉ hưu nam đủ 62 tuổi, đến 2035 nữ đủ 60 tuổi).
Luật Việc làm năm 2025 vừa được Quốc hội thông qua, khẳng định các nguyên tắc về việc làm, trong đó bảo đảm quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nơi làm việc, bình đẳng về cơ hội việc làm và thu nhập cho mọi người lao động.
Đặc biệt trong năm 2025, để bảo đảm quyền việc làm cho NCT, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 03 Quyết định là: Quyết định số 383/QĐ-TTg ngày 21/02/2025 Phê duyệt “Chiến lược quốc gia về NCT đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045”. Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 20/02/2025 Phê duyệt Đề án “NCT tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm” và Quyết định số 1648/QĐ-TTg, ngày 01/8/2025 Phê duyệt Đề án “Nhân rộng mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau giai đoạn đến năm 2035”.
Để phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, bảo đảm quyền việc làm của NCT, phát triển “kinh tế bạc”, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đề nghị cần quan tâm và tập trung vào một số giải pháp bảo đảm quyền việc làm cho NCT như sau:
Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, thay đổi tư duy, cách tiếp cận NCT từ “nhân đạo, an sinh” sang “thực hiện quyền và phát huy”, xoá bỏ định kiến “nghỉ hưu là nghỉ việc”, tôn vinh hình ảnh NCT lao động giỏi, khởi nghiệp sáng tạo. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp Nhân dân đối với vấn đề việc làm cho NCT trong giai đoạn hiện nay. Quán triệt, phổ biến tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về NCT; cổ vũ, phát huy truyền thống tốt đẹp, sức mạnh to lớn của các thế hệ NCT Việt Nam; tuyên truyền, giáo dục ý thức kính trọng, biết ơn công lao, đóng góp của NCT đối với đất nước, nhất là trong triển khai thực hiện các cuộc vận động thiết thực, hiệu quả, như “Toàn dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “NCT tham gia bảo vệ môi trường”…
Hai là, tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về NCT; rà soát, sửa đổi Luật NCT 2009 một cách đồng bộ, cụ thể để quy định rõ quyền được làm việc của NCT, không phân biệt tuổi tác trong tuyển dụng và lao động, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước và doanh nghiệp trong tạo cơ hội việc làm cho NCT. Đa dạng chính sách thu hút, khuyến khích, hỗ trợ NCT và doanh nghiệp sử dụng lao động cao tuổi, sửa đổi các văn bản hướng dẫn để quy định chi tiết về ưu đãi doanh nghiệp sử dụng lao động cao tuổi (giảm thuế hoặc khen thưởng doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động cao tuổi...), hỗ trợ NCT về đào tạo, giáo dục nghề nghiệp, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho NCT...
Có chính sách tạo điều kiện cho NCT tiếp cận các nguồn lực đất đai, vốn, khoa học công nghệ, thông tin, thị trường để khởi nghiệp và tăng cường khả năng tiếp cận của NCT đối với vấn đề việc làm.
Ba là, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ, phát triển thị trường lao động thân thiện với NCT, cần cụ thể hoá mục tiêu của Chiến lược quốc gia về NCT đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 thành các chương trình, đề án có nguồn lực rõ ràng; lập phòng tư vấn việc làm cho NCT tại các Trung tâm dịch vụ việc làm để có thông tin tuyển dụng phù hợp với NCT như (bảo vệ, trông trẻ, bán hàng thời vụ, lao động thủ công...) và kết nối với NCT có nhu cầu việc làm, tổ chức sàn giao dịch việc làm định kỳ dành cho NCT, chuyên mục: “Việc làm cho NCT” trên Cổng thông tin việc làm quốc gia, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ giới thiệu việc làm cho NCT.
Bốn là, tiếp tục phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng trong phát triển việc làm và sinh kế cho NCT; đẩy mạnh công tác tuyên truyền để gia đình ủng hộ NCT tiếp tục làm việc (nếu họ có nguyện vọng) đồng thời bố trí cho NCT công việc phù hợp. Mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau (CLB LTHTGN) cần được nhân rộng, thực hiện tốt mục tiêu của Chiến lược quốc gia về NCT đến năm 2030 ít nhất 50% xã, phường có CLB LTHTGN; nâng cao chất lượng 8 nội dung hoạt động của CLB và vận động nguồn lực, thông qua đó hỗ trợ NCT về vốn, kinh nghiệm sản xuất và tương trợ khi khó khăn.