Bối cảnh và tình hình sức khoẻ của NCT ở nước ta
Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam liên tục tăng từ 65,2 tuổi lên 73,6 tuổi (trong đó, nam giới là 71 tuổi, nữ giới là 76,3 tuổi). Tuy tuổi thọ trung bình đã tăng cao nhưng số năm sống khỏe mạnh lại thấp hơn so với nhiều quốc gia. Khoảng 95% NCT có bệnh, chủ yếu là bệnh mạn tính không lây truyền, trung bình một NCT Việt Nam mắc 3 bệnh, đặc biệt 67,2% trong số NCT có tình trạng sức khỏe yếu và rất yếu. Đặc trưng sức khoẻ của NCT Việt Nam là “bệnh tật kép”, NCT thường mắc nhiều bệnh mạn tính như: Tim mạch (tăng huyết áp, suy tim), Tiểu đường, Thoái hoá thần kinh (Alzheimer, Parkinson ), Loãng xương, Viêm khớp, đặc trưng này làm tăng nhu cầu về chăm sóc y tế liên tục và các phương pháp điều trị dài hạn…
Tình hình tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ NCT
Ngày 13/10/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1579/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình chăm sóc sức khỏe NCT đến năm 2030”. Hệ thống cơ sở chăm sóc sức khỏe NCT được hình thành, phát triển; đã thành lập Bệnh viện Lão khoa Trung ương với quy mô 500 giường, 02 tỉnh đã thành lập Bệnh viện Lão khoa, có 50/63 bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố có khoa lão; hơn 900 khoa khám bệnh có buồng riêng NCT, trên 10.000 giường điều trị nội trú ưu tiên NCT vừa điều trị bệnh, vừa điều trị phục hồi chức năng cho NCT với gần 1.800 nhân viên y tế được đào tạo về lão khoa; toàn quốc có 3 cơ sở đào tạo bộ môn lão khoa.
![]() |
Theo số liệu thống kê đã có 3 triệu NCT được lập hồ sơ theo dõi sức khoẻ, gần 4 triệu NCT được khám sức khoẻ định kỳ; 96% NCT có Thẻ Bảo hiểm y tế; trong số 130 Trung tâm bảo trợ xã hội có 13 cơ sở dưỡng lão, đã có khoảng 30 tỉnh, thành phố thành lập các cơ sở dưỡng lão tư nhân dành cho việc chăm sóc NCT. Tuy nhiên, tình hình tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ NCT ở nước ta còn gặp những khó khăn, hạn chế như sau:
Hệ thống y tế chưa đáp ứng đủ nhu cầu dịch vụ khám chữa bệnh, chưa phù hợp với đặc điểm sức khoẻ NCT. Dịch vụ y tế hiện nay chủ yếu được tổ chức theo hướng ứng phó với bệnh cấp tính trong khi đó NCT với các bệnh mạn tính cần một quy trình chăm sóc liên tục từ cộng đồng đến bệnh viện và trở về cộng đồng. Thiếu cơ sở hạ tầng hỗ trợ như Trung tâm dưỡng lão, phục hồi chức năng chuyên biệt…
Công tác chăm sóc NCT còn khoảng trống lớn về chuyên khoa Lão khoa, đến nay mới chỉ có 5 bệnh viện/cơ sở y tế có khoa Lão khoa chuyên biệt, chủ yếu ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Phần lớn các bệnh viện đa khoa tỉnh chưa có khoa Lão, NCT phải điều trị ở nhiều khoa khác nhau…
Việc bảo đảm tiếp cận dịch vụ chăm sóc NCT còn gặp khó khăn về tài chính - chi phí, mặc dù tỷ lệ bao phủ BHYT cao song danh mục chi trả còn nhiều hạn chế, nhiều loại thuốc thiết yếu, thuốc, vật tư hỗ trợ phục hồi chức năng cho NCT chưa được đưa vào danh mục thanh toán; tỷ lệ thanh toán BHYT giảm dần theo số ngày nằm viện, trong khi NCT thường có thời gian điều trị kéo dài…
Ngoài ra việc bảo đảm tiếp cận dịch vụ chăm sóc NCT còn gặp khó khăn từ chính NCT và gia đình. Nhiều NCT chấp nhận đau ốm như một phần tất yếu, không chủ động khám sức khoẻ định kỳ, tâm lý “ngại làm phiền” con cháu, sợ trở thành gánh nặng, sợ phát hiện ra bệnh nặng vì vậy trì hoãn việc đi khám...
Giải pháp, kiến nghị về bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ chăm sóc NCT
Để góp phần thực hiện tốt Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Nhân dân”, mục tiêu của Chiến lược quốc gia về NCT đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 là: “100% NCT có Thẻ bảo hiểm y tế; ít nhất 90% NCT được chăm sóc sức khoẻ ban đầu kịp thời, khám sức khoẻ định kỳ, lập hồ sơ theo dõi sức khoẻ; 100% NCT khi ốm đau, dịch bệnh được khám chữa bệnh và được hưởng sự chăm sóc của gia đình và cộng đồng” đề nghị cần quan tâm và tập trung vào một số giải pháp bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ NCT như sau:
Một là, đa dạng hóa các mô hình chăm sóc sức khỏe NCT tại cộng đồng, như: Lập sổ theo dõi sức khỏe NCT; khám sức khỏe định kì tại Trạm Y tế xã, phường, ứng dụng công nghệ số vào chăm sóc NCT. Đẩy mạnh mô hình chăm sóc sức khoẻ NCT tại nhà và cộng đồng; mở rộng danh mục và nâng cao chất lượng thuốc BHYT tuyến cơ sở; thành lập thêm các khoa Lão khoa tại bệnh viện tuyến tỉnh, mô hình Bệnh viện - Trung tâm chăm sóc dài hạn kết hợp y tế và phục hồi chức năng; mở rộng danh mục và nâng cao chất lượng thuốc BHYT...
Hai là, Nhà nước cần có chính sách phát triển ngành lão khoa trong y học, xây dựng chương trình đào tạo nguồn nhân lực chăm sóc với các trình độ khác nhau để tạo thành một nghề nghiệp chuyên môn trong xã hội, nhằm khuyến khích và thu hút người lao động tham gia vào lĩnh vực chăm sóc NCT. Các chính sách chăm sóc về NCT cần đồng bộ, hướng đến tạo môi trường thân thiện với NCT…
Ba là, ngành Y tế phối hợp với các bộ, ngành, các đoàn thể, các địa phương xây dựng các mô hình chăm sóc tích hợp cho NCT gồm tích hợp các thành phần tham gia chăm sóc sức khỏe cho NCT và tích hợp các vấn đề của NCT.
Bốn là, nên hình thành và phát triển nhanh “dịch vụ chăm sóc NCT”. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ việc xây dựng, phát triển và đa dạng hóa các Trung tâm nuôi dưỡng, chăm sóc sức khoẻ NCT. Hội NCT cần lồng ghép nội dung chăm sóc sức khỏe vào hoạt động của các câu lạc bộ NCT…
Năm là, tiếp tục ban hành các chính sách, pháp luật thể chế hóa Luật NCT; kịp thời điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi một số hạn chế, bất cập về chăm sóc sức khỏe NCT; ban hành Nghị định quy định cụ thể chính sách về đất đai, các chính sách miễn giảm thuế cho doanh nghiệp chăm sóc NCT.
Sáu là, học tập mô hình, kinh nghiệm của các nước trong hoạt động chăm sóc sức khoẻ NCT, đa dạng hóa các hoạt động chăm sóc NCT theo 5 nội dung: Chăm sóc tại nhà, dưỡng lão bán trú, chung cư cho NCT, dưỡng lão chăm sóc dài hạn và dưỡng lão chăm sóc có y tế…

