Góp phần khơi thông nguồn lực
Theo ông Lê Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ Công thương, Luật Dầu khí năm 2022 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2023) được đánh giá là một trong những Luật chuyên ngành rất tiến bộ với những cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với thực tiễn hoạt động dầu khí tại Việt Nam. Luật Dầu khí năm 2022 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật trong những năm qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành dầu khí trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, đóng góp lớn vào nguồn thu ngân sách nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.
![]() |
| Ông Lê Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ Công thương Trình bày Tờ trình về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) sáng ngày 3/8. |
Trong bối cảnh công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ngày càng khó khăn (sản lượng nhiều mỏ dầu khí hiện hữu đang suy giảm; công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở các vùng nước sâu, xa bờ gặp khó khăn do địa chất phức tạp và yếu tố phức tạp, nhạy cảm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; giá dầu thô phụ thuộc vào thị trường thế giới, gần đây có những biến động bất thường, tình hình thế giới có nhiều biến động ảnh hưởng lớn đến nguồn cung năng lượng,...).
Để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và các nhà thầu trong hoạt động dầu khí nhằm gia tăng sản lượng khai thác, hiệu quả đầu tư, tạo động lực tăng trưởng, khơi thông nguồn lực, đóng góp cho tăng trưởng đất nước và ngân sách nhà nước các năm tiếp theo, góp phần đảm bảo chủ quyền trên biển và an ninh năng lượng quốc gia, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách cho ngành dầu khí là cần thiết.
Bên cạnh đó, thời gian qua hoạt động dầu khí cũng đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập cần được xử lý, gồm: một số vấn đề khung có tính nguyên tắc mang tính đặc thù của hoạt động dầu khí phát sinh nhưng chưa được quy định cụ thể tại Luật Dầu khí năm 2022; một số vấn đề thường xuyên biến động được quy định trong Luật Dầu khí năm 2022 hiện không còn phù hợp với thực tiễn đã có những thay đổi; cùng với sự biến đổi không ngừng của các thành tựu khoa học - kỹ thuật, xu hướng chuyển dịch năng lượng, cơ chế phát triển, thúc đẩy chuỗi giá trị dầu khí và năng lượng ngoài khơi, gắn với dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao cần được bổ sung, hoàn thiện.
Theo đó, Luật Dầu khí năm 2022 cần được tiếp tục nâng cấp, sửa đổi, bổ sung toàn diện. Ngày 03/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 81/NQ-CP về việc Thông qua 05 chính sách của Luật Dầu khí (sửa đổi).
Như vậy, xuất phát từ thực tiễn quản lý, thực trạng thi hành pháp luật và bối cảnh tình hình hiện nay, việc xây dựng Luật Dầu khí (sửa đổi) để thay thế Luật Dầu khí năm 2022 là hết sức cần thiết, nhằm nâng tầm của Luật, tăng cường hiệu quả, hiệu lực trong quản lý nhà nước, Luật Dầu khí để tránh các vướng mắc có thể xảy ra trong quá trình thực hiện các hợp đồng dầu khí đã ký kết.
Ông Lê Mạnh Hùng cho biết, mục đích ban hành, quan điểm xây dựng dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) bảo đảm tính ổn định, nguyên tắc không hồi tố trong Luật Dầu khí để tránh các vướng mắc có thể xảy ra trong quá trình thực hiện các hợp đồng dầu khí đã ký kết. Bảo đảm tự chủ trong cung cấp dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao thông qua chính sách kiến tạo phát triển và hỗ trợ phù hợp.
Luật Dầu khí (sửa đổi) thay thế Luật Dầu khí năm 2022 được soạn thảo trên cơ sở 05 chính sách được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 81/NQ-CP ngày 03/4/2026, gồm 12 Chương 62 Điều (so với Luật Dầu khí hiện hành gồm 11 Chương 69 Điều).
Nội dung cơ bản kế thừa các điều khoản cơ bản của của Luật dầu khí hiện hành, bảo đảm tính ổn định, liên tục của các Hợp đồng dầu khí, Hiệp định đã ký kết; bảo đảm tính tương thích, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế. Nội dung của dự thảo Luật giải quyết 05 nhóm chính sách chính đã được Bộ Công Thương báo cáo Chính phủ (Tờ trình số 1164/TTr-BCT ngày 26/02/2026) và được Chính phủ thông qua (Nghị quyết số 81/NQ-CP ngày 03/4/2026.
Dự thảo qui định rõ cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thi hành chính sách của Luật, đó là: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động dầu khí trong phạm vi cả nước và chỉ đạo các Bộ ngành, địa phương thực hiện pháp luật về dầu khí.
Vai trò của triển khai các đề án điều tra cơ bản về dầu khí hoặc ký thỏa thuận với tổ chức, cá nhân thực hiện đề án điều tra cơ bản dầu khí theo chấp thuận của cấp có thẩm quyền; ký kết, quản lý, giám sát thực hiện hợp đồng dầu khí để tiến hành hoạt động dầu khí.
Xác định rõ trách nhiệm xuyên suốt của Bộ trong quản lý nhà nước về dầu khí
Thẩm tra dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi khẳng định, Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhất trí với sự cần thiết như đã nêu tại Tờ trình của Chính phủ. Trong đó, về hoạt động thu giữ, xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ CO2; ứng dụng dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao; phát triển công trình năng lượng ngoài khơi gắn với triển khai hoạt động dầu khí, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý toàn diện, dài hạn để triển khai có hiệu quả các dự án CCS và dự án năng lượng ngoài khơi độc lập.
![]() |
| Quốc hội nghe Tờ trình về Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi). |
Về ứng dụng dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao, đề nghị Chính phủ tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, làm rõ sự cần thiết, tính đặc thù, hợp lý và ý nghĩa của việc quy định nội dung này trong Luật Dầu khí. Trường hợp thực sự cần thiết, luật chỉ nên quy định nguyên tắc Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao. Các cơ chế, chính sách cụ thể và định hướng phát triển ngành thuộc thẩm quyền của Chính phủ; cần tiếp tục tạo điều kiện cho ngành phát triển tổng thể, chiến lược và dài hạn.
Về các quy định tăng cường phân cấp, phân quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí và giao quyền cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, các quy định của dự thảo thể hiện sự thay đổi lớn về mô hình quản lý hoạt động dầu khí thượng nguồn, không chỉ là điều chỉnh về kỹ thuật. Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ý kiến thẩm tra sơ bộ, dự thảo đã sửa theo hướng Bộ Công Thương là cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nội dung hợp đồng, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị tiếp tục hoàn thiện mô hình quản lý đặc thù, bảo đảm hiệu quả, đồng bộ, phân định rõ ràng theo từng nhóm chủ thể.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị rà soát nội dung phân quyền cho Bộ Công Thương, bảo đảm phù hợp với nguyên tắc phân cấp, phân quyền theo Luật Tổ chức Chính phủ, xác định rõ trách nhiệm xuyên suốt của Bộ trong quản lý nhà nước về dầu khí và đối với nội dung hợp đồng được ký kết. Đối với thẩm quyền chấp thuận chủ trương dự án phát triển, phát triển mỏ có chuỗi đồng bộ công trình, thiết bị trên đất liền và trên biển, cần có quy định rõ ràng, cơ sở pháp lý vững chắc vì liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương và loại quy hoạch khác nhau.
Rà soát việc giao quyền cho Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia bảo đảm hợp lý, khả thi; quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ chế và điều kiện tương xứng để thực hiện nhiệm vụ được giao. Cần làm rõ phạm vi trách nhiệm và giá trị ràng buộc của các ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí đối với quyết định của Tập đoàn về miễn giảm hoặc chuyển đổi thực hiện cam kết công việc trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc bất khả kháng.
Làm rõ cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với việc phân quyền, giao quyền, bảo đảm quản lý chặt chẽ tài nguyên quốc gia; rà soát khoản 7 Điều 6 về nội dung, chủ thể báo cáo. Trường hợp thực hiện theo Quy chế làm việc của Chính phủ thì thuộc thẩm quyền của Chính phủ.
Liên quan đến vấn đề ưu đãi trong hoạt động dầu khí và chính sách khai thác tài nguyên đối với mỏ, cụm mỏ, lô dầu khí khai thác tận thu, Ủy ban Kinh tế và Tài chính tán thành chủ trương Thủ tướng Chính phủ quyết định ưu đãi cao hơn về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất dầu thô và mức thu hồi chi phí tối đa theo Kết luận số 101 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư và bảo đảm an ninh năng lượng.


