Ánh lửa hắt lên gương mặt sạm màu nắng gió, soi rõ mái tóc đã điểm bạc và những vết chai hằn sâu trên đôi bàn tay. Đó là dấu tích của một đời người gắn với búa, đe và những thanh thép đỏ hồng. Ông bảo, nghề rèn đến với mình từ khi mới 15 tuổi. Ngày ấy, cậu bé Và Tổng Dê chỉ biết ngồi kéo bễ, nhóm lửa rồi lặng lẽ quan sát cha cầm búa. Mỗi nhịp đập, mỗi lần tôi thép đều được người cha chỉ dạy bằng sự tỉ mỉ, còn cậu con trai học nghề bằng đôi mắt, bằng đôi tay và cả những lần làm hỏng. Phải mất nhiều năm, ông mới tự tay rèn được một con dao thật sắc hay một chiếc cuốc thật bền.
![]() |
| Ông Và Tổng Dê bên lò rèn của gia đình. |
Ngày trước, nghề rèn gần như không thể thiếu trong đời sống của đồng bào Mông. Từ con dao phát nương, chiếc rìu vào rừng đến lưỡi cày, lưỡi cuốc phục vụ sản xuất đều được làm ngay trong bản. Mỗi dòng họ đều có một vài người biết rèn, bởi ai cũng hiểu rằng một nông cụ tốt sẽ giúp công việc trên nương nhẹ nhàng hơn.
Lớn lên cùng tiếng búa của cha, ông Và Tổng Dê cũng trưởng thành cùng nghề rèn. Đến tuổi đôi mươi, ông đã có thể tự làm thành thạo những nông cụ phục vụ bà con. Dao do ông rèn nổi tiếng bởi độ sắc và độ bền, cán dao luôn được tra chắc chắn, cầm vừa tay nên người trong bản và các bản lân cận đều tìm đến đặt làm. Cuộc sống ngày ấy tuy chẳng dư dả nhưng tiếng búa chưa khi nào ngừng vang trong căn nhà nhỏ.
Rồi thời gian lặng lẽ trôi qua, cuộc sống nơi vùng cao cũng đổi thay. Những chiếc dao, chiếc cuốc sản xuất công nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều với giá thành rẻ, mẫu mã bắt mắt. Người mua ít dần, nhiều lò rèn trong bản cũng theo đó nguội lạnh. Ngay cả ông Và Tổng Dê cũng từng có lúc phải gác lại nghề để lo cuộc sống gia đình.
Nhưng càng xa lò rèn, ông lại càng thấy nhớ. Chính nỗi nhớ ấy khiến ông không nỡ để nghề của tổ tiên lặng lẽ biến mất. Ông lại nhóm lửa, đặt chiếc đe về vị trí cũ và bắt đầu công việc quen thuộc như chưa từng có quãng thời gian gián đoạn.
Ngày lò rèn đỏ lửa trở lại cũng là ngày người dân trong vùng tìm đến nhiều hơn. Có người mang con dao đã cùn sau nhiều mùa phát rẫy, có người đem chiếc cuốc bị mẻ lưỡi nhờ sửa lại, cũng có người đi cả chục cây số chỉ để đặt một con dao mới. Họ bảo dùng dao của ông yên tâm hơn vì lưỡi sắc, cứng nhưng không giòn, cán cầm chắc tay và dùng nhiều năm vẫn ít bị lỏng. Niềm tin ấy không đến từ lời quảng bá mà được gây dựng bằng uy tín của người thợ già qua từng sản phẩm.
![]() |
| Những NCT miền biên viễn đang ngày ngày gìn giữ nghề rèn truyền thống. |
Ông cười hiền khi nói về bí quyết của nghề. Theo ông, nghề rèn không có điều gì bí ẩn ngoài sự cẩn trọng và kinh nghiệm. Người thợ phải biết chọn đúng loại thép, nhìn màu của ngọn lửa để căn nhiệt độ rồi tính toán thời điểm tôi thép sao cho vừa đủ. Chỉ cần nhanh hơn hay chậm hơn một chút, lưỡi dao có thể mất đi độ dẻo hoặc nhanh cùn. Bởi vậy, dù ngày nay đã có quạt gió chạy điện, có máy mài hỗ trợ, những công đoạn quan trọng nhất vẫn phải dựa vào cảm nhận của người thợ. Máy móc có thể giúp đỡ sức người nhưng không thể thay thế kinh nghiệm được tích lũy qua hàng chục năm.
Điều khiến ông Và Tổng Dê gắn bó với lò rèn đến nay không phải vì nguồn thu nhập. Sau khi trừ tiền than, điện và nguyên liệu, số tiền còn lại chỉ đủ trang trải cuộc sống. Nhưng mỗi khi thấy bà con cầm trên tay chiếc dao mới, nở nụ cười hài lòng trước sản phẩm do chính mình làm ra, ông lại thấy mọi vất vả đều xứng đáng. Với người thợ già, niềm vui lớn nhất là tiếng búa vẫn còn vang lên giữa bản làng và nghề của cha ông vẫn chưa bị lãng quên.
Nhưng nỗi trăn trở của người thợ già hiện nay là số người còn theo nghề ở miền Tây Nghệ An ngày càng ít. Và nếu một ngày những lò rèn đều tắt lửa thì không chỉ mất đi một nghề mưu sinh, mà còn mất đi một phần ký ức của bản làng. Vì thế, rất cần sự quan tâm của các cấp, các ngành trong việc bảo tồn nghề rèn, xây dựng các mô hình làng nghề, gắn nghề truyền thống với du lịch cộng đồng để những giá trị văn hóa của đồng bào Mông có thêm cơ hội được gìn giữ và lan tỏa.
Chiều xuống, ngọn lửa trong lò rèn nhà ông Và Tổng Dê vẫn âm ỉ cháy, tiếng búa vẫn đều đặn vang lên, người thợ già vẫn cúi mình bên chiếc đe cũ, tỉ mẩn hoàn thành từng sản phẩm trước khi trao tận tay bà con. Có lẽ, điều ông đang gìn giữ không chỉ là một nghề truyền thống, mà còn là ký ức của bản Mông, là tình yêu với cội nguồn được truyền qua nhiều thế hệ. Và chừng nào ngọn lửa trong căn lò nhỏ ấy còn đỏ, chừng đó hồn của nghề rèn nơi miền biên xứ Nghệ vẫn còn được gìn giữ bởi những NCT lặng lẽ mà bền bỉ như ông.


