1. “Tuổi cao chí càng cao” - Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của người cao tuổi
Quan điểm Hồ Chí Minh về người cao tuổi trước hết thể hiện ở việc đánh giá đúng vị trí, khả năng và trách nhiệm của phụ lão đối với đất nước. Kế thừa truyền thống “kính lão” của dân tộc, Người không chỉ đề cao sự kính trọng đối với các bậc cao niên mà còn đặt họ trong mối quan hệ trực tiếp với nhiệm vụ cách mạng. Những ngày hoạt động ở Pác Bó (Cao Bằng), Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ: “Muốn làm cách mạng thành công phải có lực lượng lớn mạnh. Muốn có lực lượng lớn mạnh phải có đoàn kết. Để đoàn kết rộng rãi, các chú đến đâu cũng phải kính già, yêu trẻ” (1). Từ nhận thức đó, Người quan tâm chỉ đạo việc thành lập Phụ lão cứu quốc Hội ở các thôn, bản, vùng căn cứ cách mạng. Như vậy, việc kế thừa truyền thống “kính già” trong quan điểm Hồ Chí Minh không tách khỏi “đoàn kết” và “xây dựng lực lượng”. Người cao tuổi được trân trọng không chỉ bởi tuổi đời mà còn bởi những giá trị họ có thể đóng góp cho cộng đồng và cách mạng.
![]() |
| Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm hỏi người cao tuổi ở Pác Bó, Cao Bằng, tháng 2/1961. Ảnh tư liệu |
Trong điều kiện xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, các bậc cao niên thường có uy tín trong gia đình, dòng họ và làng xã; lời nói và hành động của họ có khả năng ảnh hưởng đến con cháu và cộng đồng. Vì thế, tập hợp được phụ lão cũng có nghĩa là tạo thêm điều kiện để mở rộng sự đồng thuận và tăng cường sức mạnh đoàn kết trong Nhân dân. Quan điểm ấy được thể hiện tập trung trong Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão (6-1941), Hồ Chí Minh khẳng định: “Trách nhiệm của các cụ phụ lão chúng ta đối với nhiệm vụ đất nước thật là trọng đại” (2), đồng thời nhấn mạnh: “Nước nhà hưng, suy, tồn, vong; phụ lão đều gánh trách nhiệm rất nặng nề” (3). Như vậy, Người không đặt phụ lão ở bên ngoài vận mệnh quốc gia mà xác định họ là những chủ thể cùng chia sẻ trách nhiệm đối với sự tồn vong của đất nước.
Đặc biệt, Hồ Chí Minh cũng bác bỏ quan niệm cho rằng tuổi cao đồng nghĩa với hết khả năng đóng góp. Người khẳng định: “Xưa nay, những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không” (4). Sau Cách mạng Tháng Tám, trong Thư gửi các vị phụ lão (21/9/1945), Người còn dẫn quan niệm “Lão lai tài tận”, tức tuổi già thì tài hết, không làm được gì nữa, rồi nói rõ: “Tôi không tán thành ý kiến đó” (5).
Khẳng định tinh thần của người cao tuổi như vậy nhưng ngược lại, Hồ Chí Minh cũng không tuyệt đối hóa khả năng của họ. Người thừa nhận sự khác nhau về sức khỏe giữa các thế hệ, nhưng từ đó xác định phương thức cống hiến phù hợp với từng lứa tuổi. Người viết: “Con cháu ta, thanh niên sức khoẻ thì gánh việc nặng, chúng ta già cả, không làm được công việc nặng nề, thì khua gậy đi trước, để khuyến khích bọn thanh niên và san sẻ những kinh nghiệm của chúng ta cho họ” (6). Ở đây, “khua gậy đi trước” là một hình ảnh giàu ý nghĩa. Người cao tuổi không nhất thiết phải đảm nhiệm những công việc đòi hỏi sức lực như thanh niên, nhưng có thể đi trước bằng uy tín, kinh nghiệm và tinh thần nêu gương. Chính cách nhìn thực tế ấy làm nên giá trị của quan điểm “Tuổi cao chí càng cao”: Tuổi tác không quyết định giá trị cống hiến; điều quan trọng là biết phát huy thế mạnh của mỗi thế hệ vào nhiệm vụ chung.
2. Từ tư tưởng đến hành động - Phát huy sức mạnh người cao tuổi trong tiến trình Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của phụ lão không dừng ở lời kêu gọi mà được cụ thể hóa thành hoạt động tập hợp và tổ chức lực lượng cách mạng. Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt khi xem xét vai trò của người cao tuổi trong tiến trình dẫn tới Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Năm 1941 là một dấu mốc quan trọng, đánh dấu bằng sự kiện Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng; nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu và yêu cầu tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước trở nên cấp thiết. Trong Kính cáo đồng bào (6/6/1941), Người kêu gọi các bậc phụ lão, hiền nhân, chí sĩ cùng toàn thể đồng bào đoàn kết để thực hiện nhiệm vụ cứu nước. Cũng trong tháng 6/1941, Người viết Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão và trực tiếp đặt trách nhiệm của phụ lão trước vận mệnh dân tộc khi khẳng định: “Đồng bào cả nước ta đang ngẩng cao đầu mà trông chờ các bậc phụ lão” (7), đó vừa là sự đề cao vị thế, vừa là lời thức tỉnh trách nhiệm của một lực lượng có uy tín lớn trong cộng đồng.
Điểm quan trọng là Hồ Chí Minh không dừng lại ở lời hiệu triệu. Từ nhận thức về vai trò của phụ lão, việc tập hợp người cao tuổi được cụ thể hóa thông qua tổ chức Phụ lão cứu quốc Hội tại các thôn, bản và vùng căn cứ cách mạng. Điều đó thể hiện một nguyên tắc quan trọng trong phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh: Muốn biến tinh thần yêu nước thành sức mạnh thực tế phải tổ chức được lực lượng; muốn sức mạnh của quần chúng phát huy hiệu quả phải có hình thức tập hợp phù hợp.
Thông qua các tổ chức cứu quốc và phong trào cách mạng, những thế mạnh đặc thù của người cao tuổi có điều kiện được phát huy. Trước hết là uy tín đối với gia đình và cộng đồng. Một người cao tuổi tham gia, ủng hộ cách mạng không chỉ có ý nghĩa ở sự đóng góp của cá nhân họ mà nó còn có khả năng tác động, cổ vũ các thế hệ khác cùng tham gia. Chính vì thế, trong lời hiệu triệu năm 1941, Hồ Chí Minh không chỉ nói về khả năng của phụ lão mà còn nhấn mạnh trách nhiệm của họ đối với sự hưng, suy, tồn, vong của đất nước.
Bên cạnh uy tín là kinh nghiệm và khả năng nêu gương. Điều này được Hồ Chí Minh diễn đạt rất rõ sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công: Người cao tuổi có thể “khuyến khích” thanh niên và “san sẻ những kinh nghiệm” cho họ. Mặc dù lời căn dặn được viết ngày 21/9/1945, sau thắng lợi của Tổng khởi nghĩa, nhưng nó phản ánh nhất quán cách Hồ Chí Minh nhìn nhận thế mạnh riêng của người cao tuổi đó là kinh nghiệm và sự nêu gương là những giá trị mà sức trẻ không thể thay thế hoàn toàn.
Đặt trong tiến trình Cách mạng Tháng Tám, những yếu tố này như một dạng nguồn lực xã hội đặc thù của người cao tuổi. Nét đặc sắc trong tư tưởng và phương pháp Hồ Chí Minh là Người không chỉ nhìn vào khả năng lao động trực tiếp của phụ lão mà nhận diện được những giá trị xã hội sâu xa ấy, từ đó tạo điều kiện chuyển hóa chúng thành sức mạnh phục vụ cách mạng. Tuy nhiên, khi đánh giá vai trò của người cao tuổi trong Cách mạng Tháng Tám cần đặt lực lượng này trong chỉnh thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phụ lão không phải là một lực lượng biệt lập, càng không phải lực lượng duy nhất quyết định thắng lợi, mà cùng công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, trí thức và các tầng lớp yêu nước tạo nên lực lượng chính trị rộng lớn. Giá trị nổi bật nằm ở chỗ, mỗi lực lượng được phát huy bằng thế mạnh riêng nhưng đều được quy tụ vào một mục tiêu chung - giành lại độc lập dân tộc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vì thế cũng chứng minh tính đúng đắn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về huy động sức mạnh toàn dân: không chỉ tập hợp được nhiều người mà quan trọng là nhận diện đúng nguồn lực, tổ chức nguồn lực và phát huy đúng thế mạnh của từng bộ phận Nhân dân. Đối với phụ lão, đó là sự chuyển hóa lòng yêu nước, trí tuệ, kinh nghiệm và uy tín thành một bộ phận của sức mạnh chính trị toàn dân.
3. Bài học trong phát huy vai trò của người cao tuổi từ Cách mạng Tháng Tám đến hôm nay
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không phải là điểm kết thúc vai trò của phụ lão. Ngược lại, khi chính quyền cách mạng vừa được thành lập và nền độc lập đứng trước muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục kêu gọi phụ lão góp sức bảo vệ thành quả cách mạng. Ngày 21/9/1945, trong Thư gửi các vị phụ lão, Người viết: “Hiện nay, nước ta mới tranh lại quyền độc lập tự do, nhưng còn phải qua nhiều bước khó khăn, để củng cố quyền tự do độc lập đó” (8). Từ thực tế ấy, Người khẳng định: “quốc dân ta, bất kỳ già trẻ, đều phải ra sức gánh một vai” (9). Nếu trước Cách mạng Tháng Tám, phụ lão được kêu gọi tham gia cứu nước thì sau Cách mạng Tháng Tám, họ tiếp tục được kêu gọi góp sức giữ nước, bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Điều đó cho thấy tính liên tục trong quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của người cao tuổi. Đặc biệt, Người đề cao vai trò nêu gương và đoàn kết: “Chúng ta là bậc phụ lão, cần phải tinh thành đoàn kết trước để làm gương cho con cháu ta” (10); đồng thời “mong các vị phụ lão ở Hà thành ra xung phong tổ chức “Phụ lão cứu quốc hội” để cho các phụ lão cả nước bắt chước và để hùn sức giữ gìn nền độc lập của nước nhà” (11). Minh chứng này cho thấy Hồ Chí Minh không xem người cao tuổi chỉ là người truyền lại kinh nghiệm mà còn đặt họ vào vị trí nêu gương bằng hành động.
Từ đó, cho chúng ta thấy bài học đầu tiên còn nguyên giá trị là không bỏ sót nguồn lực con người. Cách mạng Tháng Tám thành công khi sức mạnh của các giai cấp, tầng lớp và thế hệ được quy tụ vào mục tiêu chung. Trong điều kiện hiện nay, nhiệm vụ đã thay đổi nhưng nguyên tắc phát huy nguồn lực vẫn có ý nghĩa to lớn - một xã hội muốn phát triển bền vững cần biết khai thác trí tuệ và kinh nghiệm của mọi thế hệ.
Bài học thứ hai là phải kết hợp chăm sóc với phát huy người cao tuổi. Tôn trọng và chăm lo đời sống người cao tuổi là yêu cầu nhân văn; nhưng chỉ dừng ở chăm sóc là chưa đầy đủ. Quan điểm Hồ Chí Minh gợi mở cách nhìn chủ động hơn: Người cao tuổi còn là những chủ thể có khả năng tiếp tục cống hiến, mà minh chứng rõ nhất chính là lời Người bác bỏ quan niệm “Lão lai tài tận” và khẳng định người yêu nước không vì tuổi già mà “chịu ngồi không”. Thực tiễn hiện nay cho thấy, sự cống hiến ấy được thể hiện bằng những việc rất cụ thể như người cao tuổi tham gia giáo dục truyền thống cho con cháu; truyền nghề, truyền kinh nghiệm; tham gia hòa giải, vận động nhân dân và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; đóng góp ý kiến xây dựng tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể ở cơ sở. Đó chính là sự tiếp nối trong điều kiện mới những vai trò mà Hồ Chí Minh từng đặc biệt coi trọng ở phụ lão.
Bài học thứ ba là phải gắn các thế hệ trong một chỉnh thể bổ sung cho nhau. Hình ảnh Hồ Chí Minh nêu ra rất giản dị: Thanh niên “gánh việc nặng”, phụ lão “khua gậy đi trước”, khuyến khích thanh niên và san sẻ kinh nghiệm. Giá trị của quan điểm này nằm ở chỗ không đặt các thế hệ trong sự so sánh hơn - kém mà đặt họ trong quan hệ kế thừa, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau. Đối với sự phát triển đất nước hôm nay, sức khỏe, khả năng tiếp cận cái mới của thế hệ trẻ cần được kết hợp với kinh nghiệm, bản lĩnh và vốn sống của các thế hệ đi trước. Do đó, phát huy tinh thần “Tuổi cao chí càng cao” hiện nay không nên chỉ dừng lại ở sự biểu dương về tinh thần, mà cần tạo môi trường để người cao tuổi có điều kiện tham gia những công việc phù hợp với sức khỏe, khả năng, kinh nghiệm và nguyện vọng của mình. Khi trí tuệ, kinh nghiệm và uy tín của người cao tuổi tiếp tục được sử dụng có hiệu quả, đó không chỉ là sự trân trọng đối với một thế hệ mà còn là cách làm giàu thêm nguồn lực phát triển của đất nước.
Tóm lại, nhìn từ Cách mạng Tháng Tám đến hôm nay, giá trị sâu xa của tinh thần “Tuổi cao chí càng cao” chính là bài học về phát huy con người: Không để tuổi tác trở thành giới hạn của trách nhiệm và khát vọng cống hiến; không để kinh nghiệm, trí tuệ và uy tín của một thế hệ trở thành nguồn lực bị lãng phí. Một dân tộc biết trân trọng quá khứ, kết nối các thế hệ và phát huy được trí tuệ của mọi người dân sẽ tạo dựng được nguồn sức mạnh bền vững cho hiện tại và tương lai.
(*) Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(**) Phó Giám đốc Trung tâm Chính trị Mai Sơn, Sơn La
(1) Tư tưởng Hồ Chí Minh về người cao tuổi, https://hochiminh.vn/tu-tuong-dao-duc-ho-chi-minh/nghien-cuu-tu-tuong-dao-duc-ho-chi-minh/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-nguoi-cao-tuoi-7534
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 3, tr.232
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 3, tr.232
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.23
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.23
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.23
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 3, tr.233
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.23
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.23
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.23
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.23-24


