Nguồn gốc thửa đất có trước thời điểm kết hôn?
Như đã thông tin, bà Nguyễn Thị Vân và ông Nguyễn Đức Hải tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 4/11/2003 tại UBND xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Theo đơn khởi kiện, bà Vân cho biết sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống trên phần đất do bố mẹ bà cho mượn tại thôn Đan Nhiễm, thị trấn Văn Giang. Năm 2005, vợ chồng mua đất của ông Nguyễn Văn Nhân tại thôn Đan Nhiễm, sau đó xây dựng nhà ở kết hợp kinh doanh nhà hàng.
Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn. Từ năm 2019, hai người sống ly thân. Đến năm 2024, bà Vân cùng các con chuyển sang ở tại nhà hàng trên phần đất của bố mẹ đẻ và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Trong khi đó, ông Nguyễn Đức Hải cho rằng, sau khi kết hôn, vợ chồng ông chuyển về sinh sống tại thửa đất ở Đội 10, thôn Đan Nhiễm, nhưng thửa đất này đã được ông nhận chuyển nhượng từ tháng 6/2003, tức trước thời điểm hai người đăng ký kết hôn.
![]() |
| “Đơn xin chuyển nhựng đất ở” giữa ông Nguyễn Văn Nhân và ông Nguyễn Đức Hải. |
Theo ông Hải, đây là tài sản riêng của ông, được cán bộ địa chính xác nhận ngày 10/6/2003 và UBND thị trấn Văn Giang xác nhận ngày 15/6/2003. Nếu ly hôn, ông đồng ý chia giá trị tài sản hình thành trên đất trong thời kỳ hôn nhân, nhưng không đồng ý chia quyền sử dụng đất vì cho rằng đây là tài sản riêng.
Hai kết luận giám định và những vấn đề cần làm rõ
Theo hồ sơ vụ án, ngày 23/6/2020, theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Vân, TAND huyện Văn Giang (nay là TAND Khu vực 4) đã trưng cầu Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an giám định bản gốc “Đơn xin chuyển nhựng đất ở” đề ngày 6/6/2003.
Tại Kết luận giám định số 291/C09-P5, Viện Khoa học Hình sự kết luận các số “2003” trong tài liệu không bị sửa chữa, tẩy xóa hoặc làm thay đổi. Căn cứ Khoản 1 Điều 24 Luật Giám định tư pháp số: 13/2012/QH13, Viện Khoa học Hình sự từ chối thực hiện giám định với yêu cầu thời gian xác lập văn bản do hiện nay Viện chưa giải quyết được yêu cầu trên.
Theo yêu cầu của bà Vân, TAND huyện Văn Giang tiếp tục trưng cầu Trung tâm Tư vấn, giám định dân sự thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giám định đối với “Đơn xin chuyển nhựng đất ở” và một số tài liệu liên quan.
Theo Kết luận giám định số 23/2025/TTTVGĐDS ngày 8/7/2025, của Trung tâm Tư vấn, giám định dân sự kết luận: …Chữ “TT ngày 6/6/2003” tại dòng 27 trang 1 do số lượng chữ quá ít, nên không đủ yếu tố để xác định có phải cùng một người viết ra với các chữ từ 1 đến 26 hay không? Dòng chữ này cùng loại mực, nhưng viết sau các chữ khác từ dòng 1 đến dòng 26. Dòng 1 đến dòng 26 được viết khoảng tháng 6/2005, dòng chữ 27 được viết khoảng tháng 9/2005.
Hai kết luận giám định có nội dung khác nhau về những vấn đề được xem xét đối với tài liệu. Đây là nội dung mà phía ông Hải cho rằng cần được đánh giá đầy đủ khi xem xét nguồn gốc thửa đất.
Đáng chú ý, tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 28/8/2025, ông Đào Tất Quế, người được ông Hải ủy quyền, đã đặt câu hỏi với giám định viên Hoàng Mạnh Hùng về điều kiện, căn cứ chuyên môn của việc giám định tuổi mực cũng như tư cách giám định của người thực hiện.
Theo biên bản phiên tòa, ông Hùng cho biết bản thân đã được cấp thẻ giám định viên tư pháp và bằng giám định viên kỹ thuật hình sự; đồng thời giải thích về việc thông tin liên quan đến thẻ giám định viên tư pháp chưa được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp.
Theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp, bên cạnh các tổ chức giám định tư pháp công lập về kỹ thuật hình sự còn có người và tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc đáp ứng điều kiện luật định. Do đó, vấn đề cần được làm rõ là Trung tâm Tư vấn, giám định dân sự được TAND Khu vực 4 trưng cầu với tư cách nào, có đáp ứng điều kiện và phù hợp với nội dung giám định được trưng cầu hay không; đồng thời, kết luận giám định này được đánh giá như thế nào khi đối chiếu với kết luận của Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an.
![]() |
| Lời khai của ông Nguyễn Văn Nhân. |
Các lời khai có điểm chưa thống nhất?
Bên cạnh kết quả giám định, hồ sơ vụ án còn thể hiện một số lời khai của những người liên quan có nội dung chưa thống nhất về việc chuyển nhượng, giao nhận tiền và ký giấy tờ.
Cụ thể, tại lời khai ngày 20/9/2019, ông Nguyễn Văn Nhân cho biết: “…anh Hải là người giao tiền cho tôi”.... Ông Nhân cũng khai khi lập giấy chuyển nhượng có con trai là Nguyễn Văn Kiên chứng kiến và ký vào giấy chuyển nhượng; thời điểm bán đất, gia đình ông chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong khi đó, tại lời khai ngày 27/9/2019, ông Nguyễn Văn Kiên, con ông Nhân, lại cho rằng: “… bà Lưa là người cầm tiền đến đưa cho ông Nhân… không nhớ ai là người viết giấy và nội dung giấy vì tôi không biết chữ, mẹ tôi không ký vào giấy, gia đình tôi chỉ có bố tôi (Nhân) và tôi (Kiên) ký vào giấy… Tôi khẳng định chữ ký trong văn bản này không phải chữ ký của tôi, vì tôi không biết chữ, có viết được tên của mình, nhưng không đẹp như chữ viết trong giấy tòa án cho tôi xem”.
Tại lời khai ngày 26/2/2020, ông Đỗ Khắc Kiềm cho biết ông Hải có đặt cọc tiền để thể hiện việc đồng ý mua đất. Sau đó, ông cùng ông Thoan, bà Lưa và ông Hải đến nhà ông Nhân để hoàn tất thủ tục chuyển nhượng. Theo ông Kiềm, khi ông đến thì không gặp ông Kiên ở nhà; ông có nhìn thấy bà Hòa, vợ ông Nhân, nhưng bà Hòa không tham gia việc chuyển nhượng. Ông Kiềm cũng khai bà Lưa là người cầm tiền đến.
Những lời khai trên đặt ra các vấn đề cần đối chiếu, làm rõ về người giao tiền, người chứng kiến việc lập giấy chuyển nhượng, người ký vào giấy và diễn biến thực tế của việc chuyển nhượng thửa đất.
Hồ sơ vụ án cũng thể hiện các tài liệu liên quan đến việc xác nhận thời điểm lập và xác nhận “Đơn xin chuyển nhựng đất ở”.
Tại Bút lục 155 ngày 28/3/2024, của ông Đặng Ngọc Dũng, cán bộ địa chính thị trấn Văn Giang từ năm 2000 đến 2011, ghi rõ: “Đơn xin chuyển nhựng đất ở”, ông được TAND Khu vực 4 cho xem, ông xác nhận, phần xác nhận của địa chính trong đơn chính là của ông. Về ngày tháng trong đơn (10/6/2003) là chính xác. Công dân xin xác nhận vào ngày nào thì ông ghi xác nhận ngày đó, chứ không ghi ngày khác.
Tại Bút lục 153 ngày 23/3/2024, ông Chu Huy Tuân, Chủ tịch UBND thị trấn Văn Giang nhiệm kỳ 2000-2010, xác nhận: Về “Đơn xin chuyển nhựng đất ở”, bản sao mà Tòa án cho ông xem, ông xác nhận, phần xác thực của UBND thị trấn trong đơn là chữ viết, chữ ký của ông. Thời điểm ông xác nhận là đúng như ngày tháng năm trong đơn là ngày 15/6/2003.
Ngày 20 và 27/1/2026, TAND Khu vực 4, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm và tuyên công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Đức Hải và bà Nguyễn Thị Vân, quyết định thửa đất số 12, tờ bản đồ số 40 tại Đội 10, thôn Đan Nhiễm cùng căn nhà 3 tầng và các công trình trên đất có tổng giá trị hơn 9,56 tỷ đồng là tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Giao bà Vân được sử dụng phần diện tích 89m² phía Bắc cùng tài sản trên đất, còn ông Hải được sử dụng phần diện tích 85m² phía Nam cùng tài sản gắn liền với đất.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ông Nguyễn Đức Hải ủy quyền cho ông Đào Tất Quế kháng cáo, đề nghị TAND tỉnh Hưng Yên sửa bản án theo hướng xác định quyền sử dụng thửa đất là tài sản riêng của ông Hải, được hình thành trước thời điểm kết hôn; chỉ chia giá trị tài sản được tạo lập trên đất trong thời kỳ hôn nhân.
Ngoài ra, ngày 9/7/2026, ông Quế có đơn đề nghị TAND tỉnh Hưng Yên triệu tập các ông bà: Kiên, Hòa, Kiềm, Thoan, Lưa, bà Thu (Giám đốc Ngân hàng NN&PTNT chi nhánh Văn Giang) và Trung tâm tư vấn giám định dân sự theo khoản 1 Điều 294 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định. Phía ông Quế, việc triệu tập những người này nhằm làm rõ các tình tiết, tài liệu và nội dung còn có ý kiến khác nhau trong hồ sơ vụ án.
Phía ông Hải cho rằng những vấn đề liên quan đến nguồn gốc thửa đất, kết quả giám định, lời khai của những người liên quan và các tài liệu xác nhận thời điểm chuyển nhượng cần được TAND tỉnh Hưng Yên xem xét, đánh giá tại cấp phúc thẩm.


