Danh mục
THEO DÕI TRÊN: Facebook Youtube Tiktok
tien-toi-dai-hoi-vii
Đinh hương, còn gọi là đinh tử hương, chi giải hương, công đinh hương, hùng đinh hương..., thực chất là nụ hoa của cây đinh hương, có tên khoa học là Syzygium aromaticum (L) Merr. et Perry, thuộc họ Sim (Myrtaceae).
+
aa
-
Đây là một vị thuốc thường dùng trong y học cổ truyền, được xếp vào nhóm thuốc Ôn lí. Hoa đinh hương mọc ở đầu cành, nụ hoa trông giống cái đinh, đài có 4 răng dày, hàn liền ở phía dưới thành ống màu đỏ, tràng 4 cánh rời nhau, màu trắng vàng, rụng sớm, nhị rất nhiều, xếp thành nhiều vòng. Nụ đinh hương thơm, hoa có màu hơi vàng nâu và rắn là tốt, hoa để lâu, có màu đen và mọt là kém. Người ta thường thu hái đinh hương vào lúc hoa chuyển từ màu xanh sang đỏ gạch, phơi âm can hoặc sấy nhẹ cho khô rồi bảo quản nơi khô ráo và đậy kín để dùng dần.

Nụ hoa đinh hương chứa tinh dầu, sterol glucoside (sitosterol, sigmasterol, campestol), acid crataegolic, methyl ester, acid oleanolic, quercetin, kaempferol, rhamnetin, eugeniin, protein 6%, lipid 20%, carbohydrat 61%, các vitamin... Tinh dầu nụ đinh hương là chất lỏng không màu hoặc màu vàng, để lâu sẽ sẫm màu, thành phần chính là eugenol (64 - 85%), b - caryophyllene, eugenyl acetat. Ngoài ra còn có methyl salicylat, methyleugenol, benzaldehyd, amylceton, chavicol, humulene, a - ylangene... Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, đinh hương có tác dụng dược lí khá phong phú như: Ức chế sự phát triển của một số loại vi khuẩn như trực khuẩn lị, thương hàn, phó thương hàn, bạch hầu, than, coli, tụ cầu vàng... ; chống viêm loét đường tiêu hoá; kích thích tiết dịch mật và dịch vị, nhờ đó thúc đẩy quá trình tiêu hoá; giảm đau, chống viêm và bình suyễn; ức chế co bóp cơ trơn thành ruột và khí phế quản; ức chế hoạt động của amip trên in vitro; giải nhiệt; kháng vi rút; ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu; chống ô xy hoá; nâng cao khả năng chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu ô xy...

Hoa đinh hương làm thuốc
Hoa đinh hương làm thuốc

Theo dược học cổ truyền, đinh hương vị cay, tính ấm, vào bốn đường kinh Phế, Tì, Vị và Thận, có công dụng ôn trung (làm ấm bụng), noãn thận (làm ấm thận), giáng nghịch, kích thích tiêu hoá, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như ách nghịch (nấc), ẩu thổ (nôn), tiết tả (đi lỏng), kiết lị, đau bụng do lạnh, sán khí (thoát vị bẹn hoặc thoát vị bìu, đau từ bìu lan lên bụng dưới), đau răng, phản vị (chứng ăn vào thì bụng đầy chướng, sáng ăn chiều mửa, chiều ăn sáng mửa, mửa ra thức ăn không tiêu hoá), hoắc loạn (bệnh tả)... Dưới đây xin được giới thiệu một số cách dùng cụ thể:

Nấc và nôn do hư hàn: (1) Đinh hương 9g, thị đế 9g, nhân sâm 9g, sinh khương 9g, sắc uống. (2) Đường trắng 250g gia một chút nước rồi đun nhỏ lửa cho chảy hết, kế đó cho gừng tươi giã nát 30g, đinh hương 5g, tiếp tục đun cho đến khi tạo thành dạng keo, sờ tay không dính là được, đổ ra khay có thoa dầu lạc đợi nguội rồi cắt thành 50 miếng nhỏ, mỗi ngày ăn một vài miếng sau bữa cơm.

Hoắc loạn thổ tả (chứng bệnh trên thổ dưới tả): Đinh hương 2 cái, rượu vàng 50 ml, hai thứ cho vào chén hấp cách thuỷ trong 10 phút, sau đó bỏ bã uống rượu.

Tràng ma tí ngạnh trở (liệt ruột cơ năng): (1) Đinh hương 30 - 60g, tán bột, trộn với rượu cao độ hoặc nước rồi đắp vào vùng rốn (đường kính chừng 6 - 8cm), dùng băng cố định. (2) Đinh hương, mộc hương, nhục quế, xạ hương, tất cả tán bột, đắp vào rốn.

Phúc tả (đi lỏng): (1) Đinh hương 30g, xa tiền tử sao 20g, tất bát 10g, hồ tiêu 5g, nhục quế 5g, tất cả tán thành bột mịn đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi lần lấy 100 mg bột thuốc hoà nước đắp vào rốn, dùng băng cố định lại, 1 - 2 ngày thay thuốc 1 lần. (2) Đinh hương 5 - 10g, nhục quế 4 - 6g, mộc hương 5 - 10g, tất cả tán thành bột mịn, đắp vào rốn. (3) Đinh hương 3g, sa nhân 6g, bạch truật 12g, tán bột, uống mỗi lần 2 - 4g, ngày 2 - 3 lần.

Tảo tiết (xuất tinh sớm): Đinh hương 20g, tế tân 20g đem ngâm với rượu 75% 100 ml, sau nửa tháng thì dùng được. Khi dùng, lấy dịch thuốc xoa lên đầu dương vật, sau chừng vài 3 phút có thể hành sự.

Các chứng đau do thần kinh: Đinh hương, uất kim, sài hồ, chỉ xác, xuyên khung, xích thược, cam thảo, mỗi thứ 9g, bản lam căn 30g, sắc uống, chia 2 lần trong ngày.

Tí chứng (bệnh khớp): (1) Đinh hương, nhục quế, lượng bằng nhau, tán bột, gia một lượng thích hợp nước sắc hoặc bột phòng kỉ, nước gừng tươi, dấm chua, rượu trắng và bột mì, trộn đều và nặn thành những bánh thuốc có đường kính 4 cm rồi đắp vào vị trí đau và một số huyệt vị như thận du, yêu dương quan, cũng có thể kết hợp liệu pháp cứu trên bánh thuốc. (2) Đinh hương 20g, long não 12g, cồn 90º 250 ml. Ngâm 7 ngày đêm, lọc bỏ bã. Khi dùng, lấy bông thấm thuốc nắn bóp nơi đau nhức, mỗi ngày 2 lần.

Dịch xú (hôi nách): Đinh hương 18g, hồng thăng đơn 27g, thạch cao 45g. Tất cả tán thành bột thật mịn, trộn đều, đựng trong lọ kín để dùng dần, mỗi ngày lấy một chút bột thuốc thoa đều vào nách, làm liên tục trong 5 ngày.

Nứt đầu vú: Đinh hương 5g tán bột, đường đỏ 5g, hai thứ trộn đều, chế thêm 1 chén rượu trắng, đem đun cho thật khô rồi lại tán mịn, hoà với dầu vừng, bôi lên tổn thương.

Viêm loét miệng: Đinh hương 5g tán thành bột mịn, ngâm với nước sạch sau 4 giờ thì dùng được, lấy tăm bông thấm dịch thuốc bôi vào vết loét.

Viêm xoang, hơi thở hôi, hắt hơi, xổ mũi: Dùng đinh hương bọc vào bông, thỉnh thoảng nút vào mũi.

Viêm nhiễm đường hô hấp, đặc biệt là vùng mũi, xoang mặt: Tinh dầu đinh hương, tinh dầu bạch đàn, menthol, trần bì, hạt mùi, natri bicarbonat, acid citric trộn đều, làm thành viên to. Mỗi lần xông họng 2 - 3g. Có thể hoà vào nước, ngậm xúc để cho tinh dầu bay lên.

Ngạt mũi, cảm cúm, nhức đầu: Dầu bôi gồm tinh dầu đinh hương, bạch đàn, long não, menthol, methyl salicylat, cloroform, dầu parafin, cồn tuyệt đối; cao xoa (dạng cao mềm như cao sao vàng), có tinh dầu đinh hương, bạc hà, quế, long não, sa nhân, hồi... Khi dùng, lấy một ít dầu hoặc cao bôi xoa vào mũi, thái dương, gáy...

Sưng đau chân răng: Đinh hương, xuyên tiêu lượng bằng nhau, tán thành bột mịn, thêm ít băng phiến, trộn với mật ong, bôi hằng ngày.

Đinh râu: Đinh hương 1 phần, đọt cây dứa dại tươi 2 phần, giã nát đắp.

BS Hoàng Khánh Toàn
(Nguyên Chủ nhiệm Khoa YHCT Bệnh viện Trung ương Quân đội 108)
Tags: Hoa đinh hương hoa đinh hương chứa tinh dầu Cách dùng Hoa đinh hương

Tin tức bạn quan tâm

Ung thư phổi giai đoạn 4 vẫn cần hy vọng

Ở tuổi 69, ông Tạ Đức Khương được chẩn đoán ung thư phổi giai đoạn 4 và đã trải qua 3 đợt hóa chất. Sau điều trị, sức khỏe suy kiệt, ông gần như chỉ nằm một chỗ, không đủ sức đi lại, cầm bát ăn cơm hay trò chuyện lâu. Tuy nhiên, việc đánh giá lại tình trạng và điều chỉnh phương pháp điều trị phù hợp đã giúp người bệnh từng bước phục hồi thể trạng.

Giữ trí nhớ, tăng vận động cho người cao tuổi bằng phục hồi chức năng

Tuổi càng cao, não bộ cũng như các cơ quan khác trong cơ thể dần có những thay đổi theo quy luật lão hóa. Một số người cao tuổi có thể gặp tình trạng suy giảm trí nhớ, giảm khả năng tập trung, chậm phản xạ hoặc sa sút trí tuệ, ảnh hưởng đến sinh hoạt và chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm và tham gia chương trình phục hồi chức năng phù hợp, người bệnh có thể duy trì tốt hơn khả năng nhận thức, làm chậm quá trình suy giảm chức năng và tăng tính chủ động trong cuộc sống.

Suy tim: Theo dõi tại nhà để nhận biết sớm dấu hiệu nguy hiểm

Ở bài trước, chúng ta đã cùng tìm hiểu những dấu hiệu cảnh báo suy tim và tầm quan trọng của việc phát hiện bệnh sớm. Khi đã được chẩn đoán suy tim, việc điều trị không chỉ diễn ra tại bệnh viện mà tiếp tục mỗi ngày tại nhà. Dùng thuốc đúng, ăn uống hợp lý, theo dõi cân nặng và nhận biết sớm những thay đổi bất thường là những việc người bệnh có thể chủ động thực hiện để kiểm soát bệnh.

Bệnh van tim: Đừng chủ quan với những dấu hiệu tưởng do tuổi già

Khó thở khi leo cầu thang, nhanh mệt, hồi hộp, đánh trống ngực hay phù chân cuối ngày có thể bị xem là biểu hiện bình thường của tuổi tác. Tuy nhiên, đây cũng là những dấu hiệu cảnh báo bệnh van tim - tình trạng nếu không được phát hiện và điều trị có thể làm suy giảm chức năng tim, dẫn đến suy tim và nhiều biến chứng nguy hiểm.

Não bộ tuổi già: Đừng để trí óc “nghỉ hưu” trước chính mình

Tuổi cao thường đi cùng những thay đổi về trí nhớ và khả năng nhận thức. Tuy nhiên, não bộ không vì thế mà mất hoàn toàn khả năng học hỏi, thích nghi. Nhờ tính dẻo thần kinh, não vẫn có thể thay đổi, củng cố hoặc tổ chức lại các kết nối thần kinh trong suốt cuộc đời. Vận động, dinh dưỡng, giấc ngủ, học tập và đời sống tinh thần tích cực chính là những cách thiết thực để nuôi dưỡng khả năng ấy.
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9