Vì sao Chủ tịch UBND TP chưa ra quyết định giải quyết lần hai?
Pháp luật - Bạn đọc 20/08/2022 09:00
Nội dung tranh chấp
Tại “Đơn tranh chấp quyền sử dụng đất” đề ngày 20/11/2018 gửi ông Trần Văn Bảy, Chủ tịch UBND quận 9, cụ Nguyễn Anh Hoàng, cán bộ hưu trí, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và vợ là cụ Phạm Thị Bạch Tuyết, hiện ở 1010 Nguyễn Duy Trinh, phường Phú Hữu, quận 9 trình bày nội dung tranh chấp quyền sử dụng đất (QSDĐ) với bà Nguyễn Thị Phương Thảo, ông Lê Hoàng Dũng và bà Nguyễn Thị Hoa.
Đơn của cụ Hoàng, cụ Tuyết viết: Do bị bệnh hiểm nghèo, hoàn cảnh vô cùng khó khăn và vì việc các cơ quan có thẩm quyền chậm thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh tại nội dung Văn bản số 6037/UBND-PCNC ngày 18/11/2014, nên để có tiền điều trị bệnh, ngày 10/7/2015, cụ Hoàng, cụ Tuyết đã phải chuyển nhượng cho bà Thảo quyền sử dụng phần đất vườn thực tế còn lại của thửa số 10 tờ bản đồ số 7, phường Phú Hữu là: 301,8m2/644m2 đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nhà nước cấp cho hộ cụ Hoàng, cụ Tuyết.
Do phòng Công chứng Nhà nước số 3 chỉ đồng ý chứng thực hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ toàn bộ 644m2 nói trên; và theo yêu cầu của bà Thảo, hộ cụ Hoàng cùng bà Thảo lập hợp đồng giả tạo chuyển nhượng quyền sử dụng 644m2 đất, được Phòng Công chứng số 3 chứng thực số 20574 ngày 10/7/2015. Bà Thảo đã cùng lập và kí tên vào các Tờ cam kết ngày 9/7/2015, với nội dung bà Thảo chỉ nhận chuyển nhượng QSDĐ và đăng bộ 301,8m2 còn lại của thửa số 10 được xác định tọa độ góc ranh tại bản đồ hiện trạng vị trí do lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) quận 9 đã phê duyệt Bản vẽ số 1540/TNMT.
Huân chương kháng chiến hạng Ba của bà Phạm Thị Bạch Tuyết |
Nhưng, không rõ bằng cách nào, bà Thảo đã sử dụng được Hợp đồng giả tạo số 20571 ngày 10/7/2015 và đăng bộ trót lọt toàn bộ diện tích 644m2 đất vườn, trong đó có 342,2m2 là đất thông hành địa dịch và đất đang bị lấn ranh chờ giải quyết tranh chấp theo nội dung chỉ đạo của Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh tại Văn bản số 6037/UBND-PCNC.
Sau khi đăng bộ được toàn bộ diện tích 644m2 đất vườn của thửa số 10, bà Thảo lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 644m2 đất này cho ông Dũng và bà Hoa.Trong khi bà Thảo biết rõ diện tích đất của hộ cụ Hoàng chuyển nhượng chỉ có 301,8m2 được bà Thảo kí xác nhận tại bản đồ hiện trạng vị trí bản vẽ số 1540/TNMT. Ông Dũng và bà Hoa sau đó đã đem 644m2 đất trên thế chấp vay tiền ngân hàng.
Sau khi biết được sự việc trên, hộ cụ Hoàng hứa đồng ý tặng cho bà Thảo, ông Dũng, bà Hoa theo thủ tục quy định của pháp luật một phần đất vườn thuộc thửa số 11 của hộ cụ Hoàng (chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) có diện tích ước khoảng 496,8m2 thể hiện tại Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh của Trung tâm Đo đạc Bản đồ TP ngày 30/5/2017, với điều kiện sau khi bà Thảo, ông Dũng, bà Hoa tách trả lại hộ cụ Hoàng một phần thửa số 10 tờ bản đồ số 7 diện tích 342,2m2 theo các nội dung tại Tờ thỏa thuận lập ngày 8/12/2017 và Biên bản hòa giải tại phường Phú Hữu ngày 6/3/2018.
Ông Hoàng cùng bà Thảo lập hợp đồng giả tạo chuyển nhượng 644 m2 được Phòng Công chứng số 3 chứng thực số 20574 ngày 10/7/2015 |
Nhưng sau đó vì bà Thảo, ông Dũng và bà Hoa cố tình vi phạm các nội dung thỏa thuận tại điểm (3), (4), (5) và (6) Tờ thỏa thuận ngày 8/12/2017. Vì vậy, hộ cụ Hoàng tuyên bố hủy bỏ việc tặng cho một phần thửa số 11 nói trên. Yêu cầu bà Thảo, ông Dũng, bà Hoa giao trả lại hộ cụ Hoàng diện tích 496,8m2 của thửa số 11 nêu trên, theo nguyên trạng đất vườn.
Tại Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 6/3/2020, “về việc gỉải quyết tranh chấp đất giữa ông Hoàng, bà Tuyết với bà Thảo, ông Dũng, bà Hoa tại phường Phú Hữu, quận 9”, Chủ tịch UBND quận 9 kết luận như sau:
“Phần đất tranh chấp 496,8m2 thuộc một phần thửa 11, gồm thửa 11-1 có diện tích 137,4m2 do bà Lê Thị Lượm sử dụng. Ngày 25/5/1994, UBND huyện Thủ Đức ban hành Quyết định số 55/QĐ-UBND thu hồi diện tích đất 1.000m2 thuộc một phần lô số 347, tờ bản đồ số 4, ấp Tân Điền B, xã Phú Hữu do ông Nguyễn Văn Phú tự ý lấn chiếm trái phép giao cho bà Lượm sử dụng theo quy định.
Ngày 15/4/1996, thực hiện việc giao 1.000m2 đất cho bà Lượm. Hộ ông Phú đồng ý giao đất và nhận 1.000.000 đồng hỗ trợ từ bà Lượm.
Giấy chứng nhận QSDĐ của hộ ông Hoàng |
Ngày 12/12/1996, UBND quận 9 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L607568 cho bà Lượm phần đất 844m2 thuộc thửa số 10, tờ bản đồ số 7, phường Phú Hữu, quận 9. Phần đất còn lại có diện tích 156m2 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Lượm sử dụng. Bà Lượm chuyển nhượng bằng giấy tay cho cụ Hoàng. Cụ Hoàng được chấp thuận san lấp phần đất 156m2.
Phần đất thuộc thửa 11-2 có diện tích 359,4m2 nằm trong chỉ tiêu quy hoạch đất cây xanh phòng hộ ven rạch của dự án phân lô hộ lẻ do bà Nguyễn Thị Như Mai đại diện 7 hộ, trong đó có hộ cụ Hoàng, đã được Kiến trúc sư trưởng thành phố duyệt ngày 3/11/2000 số 10890/KTST-ĐB2 do cụ Hoàng sử dụng từ năm 2000.
Cụ Hoàng có quá trình sử dụng phần đất thuộc một phần thửa 11. Tuy nhiên, giữa cụ Hoàng, bà Tuyết, bà Thảo và ông Dũng, bà Hoa có thỏa thuận về việc cho ông Dũng, bà Hoa sử dụng phần đất thuộc một phần thửa 11, kèm theo điều kiện ông Dũng, bà Hoa tách trả lại cho cụ Hoàng, cụ Tuyết phần đất thuộc một phần thửa số 10 nằm ngoài hiện trạng khuôn viên đất đã chuyển nhượng cho bà Thảo. Nội dung thỏa thuận không thực hiện được dẫn đến việc phát sinh tranh chấp giữa các bên. Như vậy, việc sử dụng đất của bà Thảo, ông Dũng, bà Hoa là có sự thỏa thuận của cụ Hoàng và cụ Tuyết.
Căn cứ Điều100, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 89 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa cụ Hoàng, cụ Tuyết với ông Dũng, bà Hoa là không có cơ sở xem xét giải quyết. Bác đơn của cụ Hoàng, cụ Tuyết tranh chấp với bà Thảo, ông Dũng, bà Hoa phần đất có diện tích 496,8m2 thuộc một phần thừa 11, tờ bản đồ số 7, phường Phú Hữu, quận 9 (theo tài liệu số 02/CT-UB).
Tờ thỏa thuận lập ngày 8/12/2017 |
Cụ Hoàng, cụ Tuyết liên hệ TAND để giải quyết tranh chấp liên quan đến nội dung thỏa thuận sử dụng phần đất có diện tích 496,8m2 thuộc một phần thửa 11, tờ bản đồ số 7, phường Phú Hữu, quận 9 (theo tài liệu số 02/CT-UB). Đây là quyết định giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu”.
Ngày 10/4/2020, cụ Hoàng và cụ Tuyết gửi đơn khiếu nại đối với Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 6/3/2020 của UBND quận 9.
Nhiều dấu hiệu làm trái
Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) TP Hồ Chí Minh có Văn bản số 7207/STNMT-TTr ngày 17/8/2020, về việc khiếu nại của ông Hoàng và bà Tuyết ở quận 9” gửi Chủ tịch UBND quận 9. Theo đó, cụ Hoàng và cụ Tuyết khiếu nại Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 6/3/2020 của UBND quận 9 về việc giải quyết tranh chấp đất giữa cụ Hoàng, cụ Tuyết với bà Thảo, ông Dũng và bà Hoa tại phường Phú Hữu, quận 9 (đơn được Ban Tiếp công dân TP Hồ Chí Minh chuyển theo Công văn số 150/PC-TCD ngày 17/4/2020). Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ việc và các tài liệu có liên quan, Sở TN&MT có ý kiến về những dấu hiệu làm trái, cụ thể dưới đây:
Một, làm trái Luật Khiếu nại. Tại Công văn số 7207 nói trên, có nội dung: “Ngày 29/4/2020, Sở TN&MT có văn bản số 270/TTr về việc đề nghị cung cấp hồ sơ giải quyết khiếu nại gửi UBND quận 9 đề nghị báo cáo theo Điều 13 Luật Khiếu nại năm 2011. Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay, Sở TN&MT vẫn chưa nhận được phúc đáp của UBND quận 9”. Việc này là dấu hiệu UBND quận 9 làm trái quy định điểm c, Khoản 2, Điều 13 Luật Khiếu nại năm 2011: “c)Cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, giải trình về tính hợp pháp, đúng đắn của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại khi người giải quyết khiếu nại hoặc cơ quan, đơn vị kiểm tra, xác minh yêu cầu trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày có yêu cầu”.
Hai, tại Công văn số 7207 nói trên, Sở TN&MT nhận định: “Từ những nội dung nêu trên, Sở TN&MT nhận thấy: Căn cứ điểm e, Khoản 1, Điều 9 Quyết định số 06/2018/QĐ-UBND ngày 7/3/2018 của UBND TP ban hành quy định về giải quyết tranh chấp đất đai và cưỡng chế thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu lực thi hành trên địa bàn TP Hồ Chí Minh: “Quyết định giải quyết tranh chấp lần đầu phải có: Nội dung giải quyết cụ thể đối với phần đất tranh chấp”.
Quyết định số 03 /QĐ-UBND ngày 6/3/2020, của Chủ tịch UBND Quận 9 |
Nhưng nội dung Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 6/3/2020 của UBND quận 9 hướng dẫn cụ Hoàng và cụ Tuyết liên hệ TAND để giải quyết tranh chấp liên quan đến nội dung thỏa thuận sử dụng phần đất tranh chấp, mà chưa xác định rõ nội dung giải quyết cụ thể đối với phần đất tranh chấp theo điểm e, Khoản 1, Điều 9 Quyết định số 06/2018/QĐ-UBND ngày 7/3/2018 nêu trên. Do đó, Sở TN&MT chuyển đơn và đề nghị UBND quận 9 xem xét, giải quyết việc tranh chấp đất đai của cụ Hoàng và cụ Tuyết theo đúng quy định pháp luật”.
Ba, có dấu hiệu Chủ tịch UBND quận 9 cố tình tước đoạt quyền được chọn hình thức giải quyết tranh chấp đất của hộ cụ Hoàng. Cụ thể:
Căn cứ văn bản số 609/UBND ngày 16/11/2018 của Chủ tịch UBND phường Phú Hữu gửi UBND quận 9, về việc trả lời đơn tranh chấp của hộ cụ Hoàng đối với phần đất có diện tích 496,8m2 thuộc một phần thửa số 11 tờ bản đồ số 7 (tài liệu số 02) của hộ ông Hoàng tọa lạc tại phường Phú Hữu, quận 9 (đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng). Nội dung đơn: “Xét đơn tranh chấp quyền sử dụng đất của ông Hoàng, bà Tuyết là thuộc thẩm quyền của UBND quận 9 giải quyết. Vậy, UBND phường Phú Hữu kính chuyển UBND quận 9 giải quyết theo luật định, đồng thời hướng dẫn ông Hoàng, bà Tuyết liên hệ nộp đơn tại UBND quận 9 để được giải quyết theo thẩm quyền”.
Căn cứ Luật Đất đai năm 2013 quy định tại Điều 203 (thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai) Khoản 2 quy định: “Tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây: a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 3 Điều này. b) Khởi kiện tại TAND có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Căn cứ Công văn số 609/UBND ngày 16/11/2018 của UBND phường Phú Hữu và căn cứ điểm a, Khoản 2, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, ngày 20/11/2018, hộ cụ Hoàng gửi đơn tranh chấp yêu cầu UBND quận 9 buộc ông Dũng, bà Hoa phải trả lại hộ cụ Hoàng diện tích 496,8m2 (chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thuộc một phần thửa số 11 có nguồn gốc của hộ cụ Hoàng hiện đang bị ông Dũng, bà Hoa chiếm dụng.
Bốn, có dấu hiệu Chủ tịch UBND quận 9 cố tình kéo dài thời gian giải quyết đơn khiếu nại; không thực hiện thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định điểm a, Khoản 2, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, để kéo dài việc chiếm dụng đất của ông Dũng, bà Hoa gây thiệt hại quyền, lợi ích hợp pháp của hộ cụ Hoàng, bởi:
a) Hộ cụ Hoàng khẳng định không chuyển nhượng diện tích 496,8m2 thuộc một phần thửa số 11 cho bà Thảo; chỉ tặng cho bà Thảo có điều kiện tại Tờ Thỏa thuận ngày 8/12/2017, không tặng cho ông Dũng, bà Hoa diện tích 496,8m2 của một phần thửa 11. Vì bà Thảo không có khả năng thực hiện điều kiện tặng cho nên việc tặng cho không thành; và giữa hộ cụ Hoàng và bà Thảo hoàn toàn không có sự tranh chấp về Tờ Thỏa thuận ngày 8/12/2017. Tờ Thỏa thuận ngày 8/12/2017, không có giá trị ràng buộc các bên phải thực hiện.
b) Bà Thảo hoàn toàn không chuyển nhượng diện tích 496,8m2 thuộc một phần thửa 11 của hộ cụ Hoàng cho ông Dũng, bà Hoa (thể hiện tại nội dung Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập giữa ông Nguyễn Thanh Hoàng Lân, bà Thảo và ông Dũng, bà Hoa ngày 16/6/2016, tại quận Gò Vấp).
Văn bản số 1165/TCD-KTĐĐ ngày 18/5/2020 của Ban Tiếp công dân TP. Hồ Chí Minh, gửi Sở TN&MT TP. Hồ Chí Minh. |
Nhiều cơ quan đôn đốc giải quyết đơn
Một, Văn bản số 1165/TCD-KTĐĐ ngày18/5/2020, về việc đôn đốc giải quyết đơn của cụ Nguyễn Anh Hoàng và cụ Phạm Thị Bạch Tuyết,ở quận 9 của Ban Tiếp công dân TP Hồ Chí Minh gửi Sở TN&MT thành phố Hồ Chí Minh, có nộidung:
Ngày 17/4/2020, Ban Tiếp công dân TP có Phiếu chuyển số 150/PC-TCD về việc chuyển đơn của cụ Hoàng, cụ Tuyết khiếu nại Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 6/3/2020 của Chủ tịch UBND quận 9 về giải quyết tranh chấp đất giữa cụ Hoàng, cụ Tuyết với bà Thảo, ông Dũng đối với phần đất 496,8m2 thuộc một phần thửa 11, tờ bản đồ số 7 (theo Tài liệu số 02/GT-UB), phường Phú Hữu, quận 9. Tuy nhiên đến nay, Ban Tiếp công dân thành phố chưa nhận được thông tin tiến độ của Sở TN&MT về vụ việc nêu trên.
Căn cứ Khoản 5, Điều 3 Quyết định số 2977/QĐ-UBND ngày 9/6/2016 của Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Tiếp công dân thành phố trực thuộc Văn phòng UBND thành phố; Ban Tiếp công dân thành phố đề nghị Sở TN&MT sớm tham mưu, đề xuất trình Chủ tịch UBND thành phố xem xét, giải quyết theo thẩm quyền và thông tin tiến độ đến Ban Tiếp công dân thành phố biết để phối hợp trong công tác tiếp công dân.
Hai, Văn bản số 3151/TCD-XLĐ ngày 2/11/2020 về việc xử lí đơn của cụ Nguyễn Anh Hoàng và cụ Phạm Thị Bạch Tuyếtcủa Ban Tiếp công dân thành phố gửi Chủ tịch UBND quận 9, có nội dung: Ban Tiếp công dân thành phố nhận được “Đơn khiếu nại” có chữ kí của cụ Hoàng và cụ Tuyết, địa chỉ số 1010 Nguyễn Duy Trinh, phường Phú Hữu, quận 9, yêu cầu Chủ tịch UBND TP xem xét giải quyết tranh chấp đất đai (lần hai) đối với Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu số 03/QĐ-UBND ngày 6/3/2020 của UBND quận 9. Qua nghiên cứu nội dung đơn, tài liệu kèm theo và rà soát, được biết: Liên quan đến vụ việc nêu trên, Sở TN&MT có Công văn số 7207/STNMT-TTr ngày 17/8/2020 chuyển đơn và đề nghị UBND quận 9 xem xét, giải quyết việc tranh chấp đất đai của cụ Hoàng và cụ Tuyết theo đúng quy định pháp luật. Do đó, Ban Tiếp công dân thành phố chuyển đơn nêu trên đến Chủ tịch UBND quận 9 để kiểm tra, xem xét, giải quyết và trả lời cho công dân theo quy định pháp luật.
Ba, Ban Tiếp công dân quận 9 có Phiếu chuyển “Đơn khiếu nại” số 1314/PC-BTCD ngày 9/11/2020 gửi Trưởng phòng TN&MT quận 9, có nội dung:
Ngày 9/11/2020, Ban Tiếp công dân quận 9 nhận Công văn số 3151/TCD-XLĐ ngày 2/11/2020 của Ban Tiếp công dân TP Hồ Chí Minh chuyển đơn của cụ Nguyễn Anh Hoàng và cụ Phạm Thị Bạch Tuyết. Nội dung đơn: Khiếu nại yêu cầu Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh xem xét giải quyết tranh chấp đất đai (lần hai) đối với Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai (lần đầu) số 03/QĐ-UBND ngày 6/3/2020 của UBND quận 9.
Căn cứ điểm a, Khoản 1, Điều 26 của Luật Tiếp công dân năm 2013 về việc phân loại, xử lí chuyển nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, người có thẩm quyền thụ lí, giải quyết. Thực hiện bút phê của Chủ tịch UBND quận, Ban Tiếp công dân quận chuyển đơn của cụ Hoàng và cụ Tuyết đến Trưởng phòng TN&MT quận 9 tham mưu UBND quận giải quyết. Khi có kết quả báo cáo Ban Tiếp công dân TP Hồ Chí Minh, UBND quận, thông tin cho Ban Tiếp công dân quận, cụ Hoàng và cụ Tuyết được biết. Nguyện vọng của gia đình người cao tuổi Trao đổi với phóng viên Tạp chí Người cao tuổi, cụ Hoàng cho biết: “Chúng tôi khiếu nại Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 6/3/2020 của Chủ tịch UBND quận 9, vì cố tình làm sai lệch nội dung vụ việc, cố tình không thực hiện thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định điểm a, Khoản 2, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, để bác đơn tranh chấp đất của gia đình tôi đối với diện tích 496,8m2, thuộc một phần thửa số 11 đang bị ông Dũng, bà Hoa chiếm dụng không có căn cứ; thể hiện dấu hiệu tước đoạt quyền lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp đất của chúng tôi được Luật Đất đai quy định.
Luật Khiếu nại 2011, Điều 37. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai: Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý. |
Cần lưu ý, Điều 21, Luật Khiếu nại năm 2011, quy định Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết khiếu nại lần 2 đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính cấp huyện. Vì thế, Sở TN&MT TP Hồ Chí Minh không làm văn bản tham mưu, trình cấp trên để ban hành quyết định giải quyết, mà chuyển đơn yêu cầu quận 9 giải quyết khiếu nại lần 2 là thể hiện dấu hiệu làm trái quy định, kéo dài thời gian giải quyết khiếu nại, gây bức xúc không đáng có cho chúng tôi”.
Trước việc chuyển đơn “lòng vòng”, Ban Tiếp công dân (Văn phòng UBND TP Hồ Chí Minh) đã có văn bản gửi Sở TN&MT nêu rõ: “Căn cứ Khoản 5, Điều 3, Quyết định số 2977/QĐ-UB ngày 9/6/2016 của Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh, Ban Tiếp công dân TP Hồ Chí Minh đề nghị Sở TN&MT sớm tham mưu, đề xuất trình Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh xem xét, giải quyết theo thẩm quyền”. Điều 37, Luật Khiếu nại năm 2011, quy định thời hạn giải quyết khiếu nại lần 2 không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lí và không quá 60 ngày đối với vụ việc phức tạp. Nhưng từ tháng 4/2020, Sở TN&MT TP Hồ Chí Minh nhận, thụ lí đơn khiếu nại lần 2, đến tháng 3/2021 chưa tham mưu, đề xuất trình Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh có quyết định giải quyết lần 2, là thể hiện có dấu hiệu làm trái Luật Khiếu nại. Chúng tôi đề nghị Chủ tịch UBND TP thụ lí giải quyết khiếu nại theo quy định pháp luật, để được thu hồi hủy bỏ Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 6/3/2020 của Chủ tịch UBND quận 9; buộc Chủ tịch UBND quận 9 giải quyết tranh chấp theo thẩm quyền quy định của Luật Đất đai và theo thời hạn quy định của Thủ tướng Chính phủ; qua đó, buộc ông Dũng, bà Hoa giao trả lại gia đình tôi toàn bộ diện tích 496,8m2 đất đã chiếm dụng trái phép”.
Thực hiện Luật Người cao tuổi năm 2009 về bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người cao tuổi, Tạp chí Người cao tuổi trân trọng chuyển nội dung phản ánh trên và đề nghị các cơ quan có thẩm quyền của TP Hồ Chí Minh xem xét, giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật và thông báo kết quả giải quyết để Tạp chí trả lời người cao tuổi là cụ Nguyễn Anh Hoàng và cụ Phạm Thị Bạch Tuyết.