Cần xét xử khách quan, minh bạch, đúng pháp luật

Pháp luật - Bạn đọc 08/05/2025 09:34
Cụ Ngô Văn Tộ, 85 tuổi, ở phố Chi Các, phường Việt Hòa cho biết, gia đình cụ có thửa đất diện tích 538m2, thuộc thửa đất số 78a, ở xã Việt Hòa, nay là phường Việt Hoà, TP Hải Dương. Năm 1992, ông Ngô Minh Sỹ (con trai cụ Tộ) hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương, lập gia đình và có nhu cầu ra ở riêng.
Cũng thời điểm năm 1992 -1993, xã Việt Hoà khi đó có chủ trương xét duyệt cấp đất giãn dân và bán đất trong khu dân cư ở từng thôn đối với đất ao hồ, thùng trũng. Trong đó, có một thửa đất ao khoảng 200m2, sát nhà, nên cụ Tộ cùng gia đình bàn và thống nhất có đơn gửi xã Việt Hoà mua thửa đất ao đó cho ông Sỹ.
Sau khi nhận đơn của cụ Tộ, UBND xã Việt Hòa đã xét, căn cứ vào nhu cầu thực tế của người muốn mua đất là ông Sỹ, UBND xã Việt Hoà đã bán thửa đất ao sâu, diện tích 200m2 giáp ranh nhà cụ Tộ cho ông Sỹ.
![]() |
Cụ Ngô Văn Tộ chỉ thửa đất gia đình được cấp. |
Ngày 14/4/1995, theo giấy mời, cụ Tộ tới trụ sở của UBND xã Việt Hoà. Tại đây, cụ Tộ (thay ông Sỹ) nộp 1.400.000 đồng (có phiếu xác nhận thu tiền). Sau đó, ông Sỹ được chính quyền địa phương bàn giao thửa đất ao, giáp ranh nhà cụ Tộ. Trong quá trình sinh sống, ông Sỹ cùng cụ Tộ có san lấp một phần đất vào thửa đất ao và trồng cây, chăn nuôi, thả cả, việc sử dụng là liên tục, ổn định, không tranh chấp.
Ngày 2/10/2001, UBND xã Việt Hòa có Thông báo về việc công khai kích thước, diện tích đo đạc đất đai các hộ gia đình và xác định như sau: Gia đình cụ Tộ có thửa đất diện tích 538m2, thuộc thửa đất số 78 (được UBND xã Việt Hòa cấp năm 1990 làm nhà ở lâu dài) và thửa đất ao có diện tích 200m2 thuộc thửa 78a (nay là thửa số 26 tờ bản đồ số 1).
Thời điểm này, do UBND xã Việt Hòa không lấy ý kiến của ông Sỹ nên đã đo gộp 2 thửa đất nêu trên thành 1 thửa đất có diện tích 738m2 chỉ đứng tên cụ Ngô Văn Tộ. Ngày 24/4/2006, UBND xã Việt Hòa ban hành Thông báo số: 06/TB-UB về việc xác định ranh giới thửa đất để đo đạc lập bản đồ địa chính phục vụ và cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đối với gia đình cụ Tộ. Ngày 19/7/2006, UBND xã đã lập Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất do gia đình cụ Tộ quản lí và có xác nhận của cán bộ đo đạc, cán bộ dẫn đạc, xác định thửa đất gia đình cụ Tộ có tổng diện tích 738,6m2.
Từ đó đến nay, gia đình cụ Tộ và ông Sỹ đã thực hiện nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước với tổng diện tích là 738,6m2 đất.
Ngày 11/4/2012, cụ Tộ có Đơn xin cấp GCNQSDĐ đối với 2 thửa đất là thửa đất thổ cư số 78, tờ bản đồ số 01, diện tích 538m2 và thửa đất số 78a, tờ bản đồ số 01, diện tích 200m2. Tuy nhiên, UBND xã Việt Hoà cho rằng, thực tế gia đình cụ Tộ chỉ được cấp (lần 1) năm 1990 là 120m2 và (lần 2) năm 1994 là 200m2. Như vậy, tổng diện tích của gia đình cụ Tộ chỉ có 320m2 cho nên UBND xã không đồng ý việc cụ Tộ có đơn xin cấp GCNQSDĐ đối với hai thửa đất rộng 538m2 và 200m2 trên.
Cho rằng việc xác nhận của UBND như vậy là chưa đúng quy định, gia đình cụ Tộ, ông Sỹ có đơn gửi UBND xã đề nghị xác minh, giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Ngày 19/1/2024, UBND phường Việt Hòa có Công văn số 31/CV-UBND về việc trả lời đề nghị của gia đình ông Sỹ như sau: Xác định thời kì cấp đất và vị trí cấp đất cho gia đình cụ Tộ năm 1990 và ông Sỹ năm 1995: Lần 1: Khoảng năm 1990, UBND xã Việt Hòa đã giao đất cho cụ Tộ 120m2 đất ở. Lần 2: Tại hội nghị xét duyệt cấp đất cho các hộ dân trên địa bàn xã vào năm 1994 của UBND xã Việt Hòa ghi cấp cho cụ Tộ thực chất là cấp cho con trai cụ là Ngô Minh Sỹ diện tích 200m2. Như vậy, tổng 2 lần là 320m2 đất, diện tích này nằm trong thửa đất số 78, tờ bản đồ số 1, diện tích 534m2 được thể hiện trên bản đồ đo vẽ năm 1995. Như vậy, việc ông Sỹ yêu cầu cấp GCNQSDĐ tại thửa đất số 78a, diện tích 200m2, địa chỉ khu 1, phường Việt Hoà là không có cơ sở xem xét.
Không đồng tình cách giải quyết của UBND phường Việt Hoà, gia đình ông Sỹ có đơn khiếu nại gửi Chủ tịch UBND phường Việt Hoà. Ngày 25/5/2024, Chủ tịch UBND phường Việt Hoà có Quyết định số: 58/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của gia đình ông Ngô Minh Sỹ. Theo đó, UBND phường Việt Hòa giữ nguyên Công văn số: 21/CV-UBND ngày 19/1/2024 trả lời đơn đề nghị của ông Ngô Minh Sỹ. Yêu cầu ông Sỹ tiếp tục cung cấp các hồ sơ liên quan, đề nghị các bộ địa chính xem xét, rà soát việc sử dụng đất của ông Sỹ hướng dẫn gia đình ông Sỹ thực hiện các thủ tục xin cấp GCNQSDĐ theo quy định.
Không đồng ý với cách giải quyết của UBND phường Việt Hoà, gia đình ông Sỹ có đơn khởi kiện gửi TAND TP Hải Dương. Tuy nhiên, khi Toà án đang giải quyết thì “bất ngờ” ngày 11/6/2024, UBND phường Việt Hòa ra Quyết định số: 103/QĐ-UBND về việc thu hồi Công văn số: 31/CV-UBND ngày 19/4/2024 và Quyết định số 58/QĐ-UBND ngày 26/5/2024, với mục đích: Thu hồi Công văn số 31 và Quyết định số 58. UBND phường Việt Hòa sẽ có trách nhiệm xác nhận hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ của ông Sỹ theo đúng quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Sau khi thu hồi 2 văn bản trên, gia đình ông Sỹ tiếp tục có đơn gửi các cấp đề nghị xin cấp GCNQSDĐ về 2 thửa đất trên. Ngày 26/12//2024, UBND phường Việt Hoà có Công văn số: 314/CV-UBND gửi Bộ phận một cửa UBND TP Hải Dương; Phòng Tài nguyên và Môi trường và UBND TP Hải Dương. Theo đó, UBND phường Việt Hoà vẫn cho rằng, diện tích giao cho ông Sỹ nằm trong thửa đất số 78a, tờ bản đồ số 1, diện tích 534m2 theo bản đồ năm 1995. Còn thửa đất số 26, tờ bản đồ số 1, diện tích 204,1m2 là loại đất ở mà ông Sỹ đề nghị cấp GCNQSDĐ là không đúng vị trí thửa đất mà UBND Việt Hoà đã cấp cho ông Sỹ. Do vậy, UBND phường Việt Hoà chuyển trả hồ sơ và đề nghị công dân thực hiện việc đề nghị cấp GCNQSDĐ theo đúng quy định.
![]() |
Quyết định số 47/QĐ-UBND ngày 2/4/2025 của Chủ tịch UBND phường Việt Hòa về việc giải quyết khiếu nại của ông Ngô Minh Sỹ. |
Ngày 3/1/2025, Phòng Tài nguyên và Môi trường TP Hải Dương có Thông báo số: 03/TB-TNMT về việc trả hồ sơ với lí do ông Ngô Minh Sỹ đề nghị cấp GCNQSDĐ tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 1, diện tích 204,1m2 không đúng với vị trí thửa đất được UBND xã Việt Hoà cấp cho ông Sỹ.
Một lần nữa, gia đình ông Sỹ lại có đơn khiếu nại gửi UBND phường Việt Hoà. Ngày 2/4/2025, Chủ tịch UBND phường Việt Hoà có Quyết định số: 47/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Ngô Minh Sỹ. Theo đó, Chủ tịch UBND phường Việt Hoà giữ nguyên Công văn số: 314/CV-UBND ngày 26/12//2024 của UBND phường Việt Hoà về việc trả hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ tại khu 1, phường Việt Hoà, TP Hải Dương.
Không đồng tình với cách giải quyết của UBND phường Việt Hoà, Phòng Tài nguyên và Môi trường TP Hải Dương, gia đình ông Sỹ có đơn khởi kiện gửi TAND TP Hải Dương đề nghị: Hủy Quyết định số: 47/QĐ-UBND ngày 2/4/2025 của Chủ tịch UBND phường Việt Hòa về việc giải quyết khiếu nại của ông Ngô Minh Sỹ, khu 1, phường Việt Hòa, TP Hải Dương (lần đầu); Hủy Công văn số: 314/CV-UBND ngày 26/12/2024 của UBND phường Việt Hòa về việc trả lại hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ tại khu 1 phường Việt Hòa, TP Hải Dương; Huỷ Thông báo số: 03/TB-TNMT ngày 3/1/2025 của Phòng Tài nguyên và Môi trường TP Hải Dương về việc trả hồ sơ cho ông Ngô Minh Sỹ.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Người cao tuổi, cụ Ngô Văn Tộ cho biết: Thứ nhất, thửa đất số 26, tờ bản đồ số 1, diện tích 204,1m2, địa chỉ tại khu 1, phường Việt Hòa có nguồn gốc đất rõ ràng, được con trai tôi (ông Sỹ) sử dụng ổn định, lâu dài, không tranh chấp. Khi mua đất, tôi là người trực tiếp nộp tiền, hằng năm gia đình đều đóng thuế cho Nhà nước.
Tôi nhớ khi đó, năm 1992-1993, xã Việt Hoà có chủ trương bán đất giãn dân, đất ao, hồ... tôi cùng 62 hộ gia đình ở địa phương có làm đơn mua đất. Do Sỹ mới đi bộ đội về và lập gia đình cho nên rất cần phải mua đất để làm nhà và ra ở riêng. Một phần vì phần đất của gia đình (538m2) tôi đã tính chia cho các con (4 người con), một phần vì thửa đất cũng tiếp giáp nhà tôi, cho nên khi mua cũng dễ quản lí sử dụng, và anh em “chúng nó” cũng gần nhau, tiện cho các công việc. Nên gia đình mới nhất quyết mua thêm 1 phần đất tiếp giáp đó để cho Sỹ ở. Sau đó, tại hội nghị xét cấp đất giãn dân (ngày 29/9/1994), tập thể lãnh đạo xã Việt Hòa đã đồng ý xét duyệt đơn xin mua đất của tôi với diện tích 200m2 là đất ao sâu.
Điều này chứng minh tại Biên bản Hội nghị cấp đất dân cư năm 1994 ngày 29/9/1994 có tên Ngô Văn Tộ - khu 1 số thứ tự 44 thuộc diện được cấp đất. Đến thời điểm năm 1995, tôi thay anh Sỹ nộp tiền mua thửa đất ao 200m2 với giá 1.400.000 đồng, có Phiếu thu tiền số 30 ngày 15/4/1995 (xác định rõ ngày 18/9/1995 đã thu của cụ Ngô Văn Tộ 1.400.000 đồng tiền đất ở 200m2) và Giấy mời nộp tiền đất ngày 13/4/1995 (xác định rõ mời ông Ngô Văn Sỹ vào 14h00 ngày 15/4/1995 đến UBND xã nộp tiền đất ở 1.400.000 đồng).
Sau khi đóng tiền, chính quyền địa phương đã bàn giao thửa đất ao 200m2 đó cho gia đình. Lúc đó, tôi cùng vợ chồng anh Sỹ đổ đất bồi đắp, tôn tạo, quản lí, sử dụng để trồng cây, nuôi cá. Do Sỹ đi làm xa, cho nên phần lớn thửa đất đó tôi vẫn trông nom giúp. Trong quá trình sử dụng, gia đình anh Sỹ không tranh chấp với bất kì ai, điều này chứng minh qua Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư ngày 26/7/2012 xác nhận nguồn gốc thửa đất: “Thửa đất số 78 tờ bản đồ số 1 được UBND xã cấp cho ông Ngô Văn Tộ vào năm 1990. Thửa đất 78a, tờ bản đồ số 1 được UBND xã cấp năm 1994. Hiện tại tình trạng thửa đất không có tranh chấp”.
Bên cạnh, tôi và anh Sỹ hằng năm đều phải đóng tiền thuế (có biên lai thu thuế) cho Nhà nước với diện tích 738,6m2 đất (trong đó 538m2 là của tôi và 200m2 đất là của Sỹ).
Ngoài ra, tại Sổ mục kê (Quyển số 01) của UBND xã Việt Hòa xác định năm 2006, gia đình cụ Ngô Văn Tộ sở hữu 738,6m2 đất phi nông nghiệp (bao gồm 200m2 thửa đất ao). Tôi cho rằng, thửa đất ao rộng 200m2 thửa đất 78a, tờ bản đồ số 1 được tôi mua của UBND xã Việt Hoà cho Sỹ với giá 1.400.000 (đóng tiền ngày 18/9/1995).
Thứ hai, vị trí thửa đất 200m2 mà tôi mua cho anh Sỹ là thửa đất số 26, tờ bản đồ số 1, diện tích hiện nay là 204,1m2 tại địa chỉ khu 1, phường Việt Hòa, tách riêng và liền kề chứ không nằm trong thửa đất số 78 tờ bản đồ số 1, diện tích 538m2 của tôi đang quản lí, sử dụng. Đây là hai thửa đất riêng biệt, có vị trí hoàn toàn khác nhau. Gia đình tôi có 2 lần được Nhà nước cấp đất, cụ thể:
Lần 1: Năm 1990 tôi được Nhà nước cấp 200m2 đất theo xác nhận ngày 9/6/2010 của ông Nguyễn Văn Lụa, nguyên Chủ tịch UBND xã Việt Hòa. Thời điểm năm 1990, ông Lụa còn làm Chủ tịch xã (chính quyền địa phương không có tài liệu diện tích chính xác cấp lần đầu, trong đó có cả xác nhận cấp lần đầu là 240m2). Trong quá trình sử dụng, từ năm 1990 đến năm 1993, gia đình tôi đã cơi nới, sang lấp, mở rộng thêm, tổng cộng là 538m2. Đến nay đã hơn 30 năm, gia đình tôi đã xây dựng 4 ngôi nhà có công trình phụ, khuôn viên cho tôi và các con của tôi.
Lần 2: Vào năm 1993, tôi có đơn xin cấp đất 200m2 tiếp giáp thửa đất số 78 tờ bản đồ số 1, diện tích 538m2 mà gia đình chúng tôi đang ở và sau đó được UBND xã xét duyệt. Năm 1995, tôi đã nộp tiền mua đất với giá 1.400.000 đồng và đã được bàn giao đất.
Mặt khác, gia đình tôi đã ở ổn định ở thửa đất 78 tờ bản đồ số 1, diện tích 538m2, cho nên khi xã có chủ trương bán đất giãn dân năm 1993 thì gia đình tôi mới mua thêm thửa đất ao bên cạnh 200m2 đó cho anh Sỹ. Tôi có “rảnh” đâu mà đi làm đơn xin mua một phần đất trong chính diện tích đất của mình đang sử dụng!?
Thứ ba, việc anh Sỹ đề nghị cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất ao 200m2 là hoàn toàn phù hợp với Luật Đất đai hiện hành. Thửa đất được lập biên bản xác nhận là không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của xã Việt Hòa do đất này được mua tại thời điểm UBND xã Việt Hòa có chủ trương xét duyệt cấp đất giãn dân cho 62 hộ.
Thứ tư, việc trả lại hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của UBND phường Việt Hòa theo Công văn số: 314/CV-UBND ngày 26/12/2024 và của Phòng Tài nguyên và Môi trường TP Hải Dương theo Thông báo số: 03/TB-TNMT ngày 3/1/2025 là không đúng quy định. Công văn số: 314/CV-UBND về việc trả lại hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ ngày 26/12/2024, đưa ra lí do trả lại hồ sơ của Sỹ đề nghị cấp GCNQSDĐ tại vị trí thửa đất số 26, tờ bản đồ số 01 đã đo đạc là: “Thửa đất đề nghị cấp sổ không đúng vị trí thửa đất mà UBND xã Việt Hòa (nay là phường Việt Hòa) đã cấp cho ông”.
Ngày 28/11/2023, Chủ tịch UBND TP Hải Dương Trần Hồ Đăng có Công văn số 3040/UBND - TNMT cho rằng: Theo đơn của ông Ngô Minh Sỹ, xác định năm 1995, UBND xã Việt Hoà giao đất không đúng thẩm quyền cho ông Ngô Minh Sỹ. Việc cấp GCNQSDĐ thực hiện theo quy định tại Điều 98,99,101,105 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 23, 70 của Nghị định 43/2024NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, do vậy, UBND TP hướng dẫn ông Sỹ liên hệ với UBND phường Việt Hoà cung cấp giấy tờ liên quan đến thửa đất xin cấp GCNQSDĐ. UBND phường Việt Hoà có trách nhiệm kiểm tra, áp dụng quy định nêu trên, xem xét nếu đủ điều kiện, hướng dẫn ông Sỹ hoàn thiện hồ sơ để cấp GCNQSDĐ. |
Khi chúng tôi khiếu nại thì Chủ tịch phường Việt Hoà có Quyết định giải quyết khiếu nại số: 47/QĐ-UBND và cho rằng: “Năm 2001, UBND xã Việt Hòa thực hiện đo đạc, chỉnh lí bản đồ đã đo đạc năm 1995 để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ ở cho các hộ, ngoài diện tích 534m2 đo đạc năm 1995 của tờ bản đồ số 1, thửa số 78. Hộ ông Ngô Văn Tộ là hộ giáp ranh với ao công do UBND xã quản lí, đã tự ý chỉ mốc giới để đo thêm 200m2 đất ao, tạo thành thửa số 78a, nay là thửa số 26 tờ bản đồ số 01 diện tích 204,1m2”; “Năm 2006 UBND xã Việt Hòa triển khai đo đạc bản đồ lập hồ sơ địa chính khu vực đất ở dân cư. Hộ ông Ngô Văn Tộ là hộ giáp ranh với ao công do UBND xã quản lí vẫn chỉ mốc giới để đo thêm 200m2 ao công (UBND phường đã không kí vào biên bản đo đạc hiện trạng thửa đất của gia đình ông). Chưa có ranh giới, mốc giới thửa đất”.
UBND xã cũng đưa ra một vài ý kiến của cá nhân và cho rằng gia đình tôi đòi đo thêm đất. Nội dung này hoàn toàn là bịa đặt, phi lí và không có căn cứ. Gia đình tôi làm sao có thể tự ý chỉ mốc giới được, việc đo đạc xác định ranh giới, mốc giới là do cán bộ địa phương thực hiện. Điều này chứng minh bằng: Thông báo số 06/TB-UB ngày 24/4/2006 của UBND xã Việt Hòa về việc xác định ranh giới thửa đất để đo đạc lập bản đồ địa chính phục vụ và cấp đổi GCNQSDĐ đối với gia đình nhà tôi; Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 19/7/2006 do UBND xã lập có chữ kí của cụ Tộ và có xác nhận của cán bộ đo đạc Trần Đăng Chuyển, cán bộ dẫn đạc Nguyễn Văn Nhần, xác định thửa đất gia đình cụ Tộ có tổng diện tích 738,6m2.
“Từ những chứng cứ như trên, tôi khẳng định thửa đất 200m2 và thửa đất 538m2 là hai thửa đất khác nhau, có vị trí xác định rõ, tách biệt, được quản lí, sử dụng bởi 2 người khác nhau. Trong đó thửa rộng 538m2 của bố tôi (cụ Tộ), còn 200m2 ao là đất của tôi. Tuy nhiên, UBND phường Việt Hoà nhiều lần “gây khó”, dẫn tới gia đình tôi hai lần có đơn gửi TAND TP Hải Dương để khởi kiện những quyết định hành chính gây “bất lợi” cho gia đình tôi. Mới đây, TAND TP Hải Dương đã có buổi làm việc với tôi về việc khởi kiện các quyết định hành chính trên. Hi vọng, trong thời gian tới TAND TP Hải Dương sẽ đưa vụ án trên ra xét xử khách quan, minh bạch, đúng các quy định pháp luật, bảo vệ các quyền lợi chính đáng cho những người dân thấp cổ bé họng như chúng tôi”, ông Ngô Minh Sỹ khẳng định.