Dấu hiệu xe quá khổ, quá tải chở đất vào KCN Bắc Tiền Phong: Nỗi lo an toàn của người cao tuổi
Pháp luật 29/01/2026 08:02
Liên quan đến vụ án, luật sư Phạm Thanh Bình, Công ty Luật TNHH Bảo Ngọc, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho biết, đã gửi kiến nghị đề nghị hoãn THA đối với ông Nguyễn Huỳnh Đạt Nhân. Theo luật sư Phạm Thanh Bình, việc kiến nghị này xuất phát từ cả hai phương diện pháp lí và thực tiễn THA, trên cơ sở bản chất vụ việc cũng như hoàn cảnh cụ thể của người bị kết án, khi bản án còn nhiều vấn đề pháp lí cần được xem xét, làm rõ.
Về hình sự, bị truy tố theo Khoản 3 Điều 179 BLHS năm 1999, ông Nhân chỉ bị tuyên phạt 5 năm tù, thấp hơn khung hình phạt tương ứng, cho thấy Tòa án không đánh giá vụ án ở mức đặc biệt nghiêm trọng.
![]() |
| Luật sư Phạm Thanh Bình. |
Cũng theo luật sư Phạm Thanh Bình, bản án phúc thẩm có nhiều nội dung cần được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, trong đó đáng chú ý là việc áp dụng pháp luật.
Thứ nhất, tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” theo Điều 179 BLHS năm 1999 là tội phạm có chủ thể đặc biệt; áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động ngân hàng và trực tiếp thực hiện các quy định về cho vay. Ông Nhân là bên vay vốn, không phải cán bộ, nhân viên ngân hàng, không tham gia vào quy trình nghiệp vụ của ngân hàng. Việc coi ông Nhân là đồng phạm với vai trò người thực hành hoặc tổ chức là chưa phù hợp với quy định pháp luật.
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không có chứng cứ về việc ông Nhân có hành vi giúp sức, xúi giục, bàn bạc, thống nhất ý chí hay tác động đến việc định giá tài sản bảo đảm. Việc định giá tài sản bảo đảm là nghiệp vụ chuyên môn thuộc thẩm quyền và trách nhiệm quản lí nội bộ của ngân hàng. Khi những người có trách nhiệm trực tiếp xác nhận không có sự tác động hay thống nhất ý chí với bên vay, thì việc quy kết đồng phạm đối với tội danh có chủ thể đặc biệt là thiếu cơ sở pháp lý.
Thứ hai, bản án xác định chưa đúng yếu tố thiệt hại, dấu hiệu bắt buộc của tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” theo Điều 179 BLHS năm 1999.
Theo hồ sơ vụ án, phía ngân hàng chưa xác định thiệt hại thực tế. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm và phúc thẩm vẫn viện dẫn kết luận định giá để xác định số tiền hơn 291,216 tỉ đồng là “thiệt hại”, nhưng lại không buộc các bị cáo phải bồi thường khoản tiền này.
Mâu thuẫn tiếp tục thể hiện trong phần trách nhiệm dân sự của bản án phúc thẩm. Tòa án tuyên sau khi phát mãi tài sản thế chấp, số tiền lãi chưa thu hồi được sẽ do các bị cáo chịu theo tỉ lệ: Nhân 50%, Hải 25%, Liệu 15% và Tuấn Anh 10%. Theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, khi xác định có thiệt hại, nguyên tắc bắt buộc là buộc bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Trong khi đó, lãi phát sinh từ quan hệ tín dụng không được coi là thiệt hại trong chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Việc không buộc bồi thường khoản “thiệt hại” đã được xác định, mà lại phân bổ nghĩa vụ “chịu lãi chưa thu hồi được” theo tỉ lệ (%) giữa các bị cáo là không dựa trên các căn cứ pháp lí về lỗi, quan hệ nhân quả và mức độ trách nhiệm; đồng thời không phù hợp với các quy định của pháp luật dân sự và pháp luật hình sự về xác định, xử lí thiệt hại trong vụ án.
Thứ ba, bản án bị cho là xác định sai thời điểm thiệt hại, trái với hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao.
Vụ án được khởi tố từ ngày 24/12/2015 và kéo dài gần 10 năm. Nếu coi khoản tiền phải trả cho ngân hàng là hậu quả của vụ án thì việc kéo dài quá trình tố tụng đã làm phát sinh, gia tăng tiền lãi và các nghĩa vụ tài chính theo thời gian. Việc xác định “thiệt hại” tại thời điểm xét xử, trên cơ sở các khoản phát sinh trong suốt quá trình này, được cho là không phản ánh đúng thời điểm xác định thiệt hại theo quy định pháp luật.
Theo Khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020, trong trường hợp không thể xác định thiệt hại tại các thời điểm khác, thiệt hại được xác định chậm nhất tại thời điểm khởi tố vụ án. Đối chiếu với vụ án, mốc khởi tố ngày 24/12/2015 được coi là thời điểm xác định thiệt hại của ngân hàng (nếu có).
Thứ tư, bản án xác định thiệt hại về tài sản khi cộng lãi vay vào thiệt hại, không phù hợp với BLDS năm 2015 và bản chất tội danh bị truy tố. Việc tính thiệt hại bằng tổng nợ gốc và lãi vay trừ giá trị tài sản thế chấp thiếu cơ sở pháp lí. Điều 589 BLDS không quy định thiệt hại bao gồm lãi vay là lợi ích phát sinh từ quan hệ tín dụng, không phải tài sản theo Điều 105 BLDS. Hơn nữa, tội danh bị truy cứu là “xâm phạm trật tự quản lí kinh tế” không phải “quyền sở hữu”, nên việc cộng lãi vay vào thiệt hại để định tội và định khung hình phạt là không phù hợp quy định pháp luật.
Thứ năm, bản án phúc thẩm cho rằng, phần tiền còn dư sau khi phát mãi quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại số 12 và số 51 đường Nguyễn Trãi, TP Cần Thơ cần bị tịch thu sung quỹ Nhà nước, vì được coi là “tiền do phạm tội mà có”. Tuy nhiên, nhận định này thiếu cơ sở pháp lí khi không chứng minh được mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi phạm tội bị truy cứu với việc hình thành khoản tiền còn dư.
Theo nguyên tắc của pháp luật hình sự, chỉ những khoản tiền phát sinh trực tiếp từ hành vi phạm tội, mang tính thu lợi bất hợp pháp hoặc là kết quả của hành vi chiếm thì mới bị coi là “tiền do phạm tội mà có”. Trong vụ án này, tội danh theo Điều 179 BLHS năm 1999 là vi phạm quy định về cho vay, không phải tội chiếm đoạt. Số tiền còn dư sau khi xử lí tài sản bảo đảm không phát sinh từ hành vi phạm tội, mà là giá trị còn lại của tài sản thế chấp hợp pháp đã tồn tại trước đó và được xử lí trong khuôn khổ hợp đồng tín dụng. Theo Điều 307 BLHS năm 2015, phần giá trị còn lại sau khi xử lí tài sản bảo đảm phải được hoàn trả cho bên thế chấp.
Đặc biệt, trong khi bản án vẫn công nhận hợp đồng tín dụng còn hiệu lực và buộc doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi đến ngày 19/7/2024, lại đồng thời coi phần tiền dư sau xử lí tài sản bảo đảm là “tài sản do phạm tội mà có” để tịch thu. Việc đặt cùng một giao dịch vào hai trạng thái pháp lí trái ngược, vừa làm phát sinh nghĩa vụ dân sự, vừa làm căn cứ áp dụng hậu quả pháp lí hình sự, đã bộc lộ mâu thuẫn nội tại trong việc áp dụng pháp luật.
Xuất phát từ những vấn đề pháp lí nêu trên, luật sư Phạm Thanh Bình và các đương sự đã gửi kiến nghị đến cơ quan chức năng đề nghị xem xét Bản án phúc thẩm số: 314/2025/HS-PT theo thủ tục giám đốc thẩm, đồng thời đề nghị tạm hoãn THA phần hình sự và dân sự, nhằm tránh phát sinh những hậu quả pháp lí khó hoặc không thể khắc phục trong trường hợp bản án bị sửa đổi hoặc hủy bỏ sau này.