Hải Phòng: Tổng kiểm tra, phát hiện nhiều công nhân dương tính với ma tuý
Pháp luật 14/01/2026 15:02
Theo hồ sơ vụ án, khu đất 193.200m² có nguồn gốc thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cụ Tăng Như Hoa và vợ là cụ Phạm Thị Hổ được xác lập thông qua giao dịch hợp pháp từ năm 1966. Cụ Hoa và cụ Hổ lần lượt qua đời năm 1976 và năm 2010, để lại di chúc tài sản cho con là ông Tăng Văn Giàu. Năm 2013, ông Giàu chết, quyền thừa kế được chuyển cho vợ là bà Phan Thị Anh. Bà Anh chết năm 2017, để lại di sản thừa kế cho con là ông Tăng Văn Nhung. Ông Nhung kí giấy ủy quyền (ngày 2/1/1994) cho con trai là ông Tăng Văn Hiền và vợ là bà Phạm Thị Nguyệt. Bà Nguyệt là người khởi kiện quyết định hành chính của UBND TP Thủ Đức (cũ) ra TAND TP Hồ Chí Minh. Bản án hành chính sơ thẩm của TAND TP Hồ Chí Minh cũng thừa nhận nguồn gốc đất là của cụ Hoa và cụ Hổ. Tuy nhiên, năm 1978, khu đất được đưa vào Tập đoàn sản xuất. Năm 1990, khi Tập đoàn giải thể, gia đình cụ Hoa không được hoàn trả đất mà diện tích đất trên tiếp tục do các hộ dân khác quản lí, sử dụng và kê khai theo Chỉ thị 299/TTg của Chính phủ.
![]() |
| Bà Phạm Thị Nguyệt mong vụ việc được xem xét, giải quyết công tâm. |
Vấn đề pháp lí đặt ra là nếu Nhà nước cho rằng quyền SDĐ của gia đình cụ Hoa đã chấm dứt và đất được giao cho các chủ thể khác sử dụng, thì quyết định thu hồi đất được ban hành khi nào, bởi cơ quan nào và trên cơ sở pháp lí nào? Theo các quy định của Luật Đất đai qua các thời kì, việc thu hồi đất là một hành vi pháp lí đặc biệt, bắt buộc phải được thể hiện bằng quyết định hành chính cụ thể, kèm theo phương án bồi thường, hỗ trợ. Tuy nhiên, trong toàn bộ hồ sơ vụ án, không có tài liệu nào chứng minh đã tồn tại một quyết định thu hồi đất hợp pháp đối với diện tích đất của gia đình cụ Hoa?
Việc coi quá trình “đưa đất vào tập đoàn” hay việc các hộ dân kê khai theo Chỉ thị 299/TTg như căn cứ để chấm dứt quyền SDĐ hợp pháp là biện pháp quản lí hành chính mang tính lịch sử khác với việc chấm dứt quyền tài sản của công dân theo trình tự pháp luật.
Một trong những điểm gây tranh luận lớn của bản án sơ thẩm là việc Tòa án thừa nhận khu đất được sử dụng ổn định trước năm 1975, nhưng lại không áp dụng đầy đủ các quy định của pháp luật đất đai về công nhận quyền SDĐ đối với trường hợp sử dụng ổn định, lâu dài. Trong khi đó, pháp luật đất đai hiện hành cũng như các quy định chuyển tiếp đều có cơ chế bảo vệ quyền lợi của người SDĐ ổn định, không có tranh chấp kéo dài.
Bên cạnh đó, bản án ghi nhận thực tế có sự sai lệch giữa diện tích đất sử dụng và hồ sơ địa chính qua các thời kì, nhưng lại tiếp tục coi các quyết định hành chính được ban hành trên nền hồ sơ chưa được chỉnh lí là hợp pháp. Cách đánh giá này đặt ra mâu thuẫn về hồ sơ địa chính chưa phản ánh đúng thực tế SDĐ, thì các quyết định dựa trên hồ sơ đó khó có thể bảo đảm đầy đủ căn cứ pháp lí và thực tiễn.
Không chỉ tồn tại vấn đề về nội dung, bản án sơ thẩm còn bộc lộ những hạn chế về hình thức và tố tụng. Ngôn ngữ sử dụng trong bản án có những cụm từ mang tính hành chính, báo cáo, chưa phản ánh đúng đặc thù của hoạt động xét xử và yêu cầu lập luận của bản án hành chính.
Đáng chú ý, bản án chưa làm rõ và chưa đặt đúng trọng tâm nghĩa vụ chứng minh của cơ quan hành chính - chủ thể bị kiện trong vụ án hành chính. Theo Khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, cơ quan ban hành quyết định có nghĩa vụ chứng minh tính hợp pháp của quyết định bị khiếu kiện, bao gồm căn cứ pháp lí, trình tự - thủ tục ban hành và cơ sở thực tiễn. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án cho thấy cơ quan bị kiện chủ yếu dựa vào hồ sơ địa chính và kết quả đo đạc giai đoạn 1996-1998, nhưng không cung cấp đầy đủ tài liệu chứng minh việc rà soát, đối chiếu quy định pháp luật qua các thời kì với hiện trạng SDĐ thực tế. Trong khi đó, hồ sơ thể hiện khu đất được sử dụng ổn định từ trước năm 1975, không có quyết định thu hồi đất hợp pháp, không có văn bản giao đất hay chuyển quyền theo đúng trình tự pháp luật. Bên cạnh đó, trình tự ban hành quyết định chưa được chứng minh là đã thực hiện đầy đủ việc xác minh thực địa, chỉnh lí hồ sơ địa chính khi có sai lệch, cũng như tổ chức đối thoại làm rõ nguồn gốc và quá trình sử dụng đất. Việc Tòa án không phân tích đầy đủ những thiếu sót này, trong bối cảnh chính Hội đồng xét xử thừa nhận hồ sơ địa chính thiếu thống nhất, đã khiến phán quyết chưa thật sự thuyết phục và chưa thể hiện đầy đủ vai trò kiểm soát quyền lực hành chính của Tòa án.
Bản án sơ thẩm thừa nhận vụ việc có tính chất phức tạp, kéo dài qua nhiều giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên, các biện pháp được áp dụng trong phần quyết định lại chưa tương xứng với mức độ phức tạp đó. Việc chỉ hủy một phần quyết định hành chính và giao cơ quan hành chính xem xét, giải quyết lại, trong khi không buộc rà soát toàn diện, đo đạc lại và chỉnh lí hồ sơ địa chính, tiềm ẩn nguy cơ tiếp tục phát sinh khiếu kiện kéo dài.
Một điểm gây nhiều băn khoăn là sự mâu thuẫn nội tại trong phán quyết: Tòa án không chấp nhận yêu cầu đòi lại toàn bộ khu đất của nguyên đơn, nhưng lại ghi nhận việc giao trả một phần diện tích trên cơ sở thỏa thuận. Cách giải quyết này làm dấy lên câu hỏi về tính nhất quán trong việc xác định quyền SDĐ đối với cùng một nguồn gốc đất và cùng một chủ thể.
Ngày 18/12 vừa qua, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP Hồ Chí Minh tuyên xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Nguyệt; hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 124 ngày 21/4/2025 của TAND TP Hồ Chí Minh; giao hồ sơ về cho TAND TP Hồ Chí Minh giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
Vụ án không chỉ là tranh chấp về quyền sử dụng một diện tích đất cụ thể, mà còn đặt ra yêu cầu về việc bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và thượng tôn pháp luật trong quản lí đất đai. Một phán quyết khách quan, thấu đáo ở cấp sơ thẩm (xử lại tới đây) sẽ có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, mà còn góp phần củng cố niềm tin của người dân vào vai trò của Tòa án trong bảo vệ công lí.