Chiếm dụng đất, xây dựng trái phép kéo dài tại phường Tân Hải, TP Hồ Chí Minh
Pháp luật 05/02/2026 07:52
Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Văn Kịch (bố của bị cáo Nhân), người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án cho biết: “Chúng tôi đã có đơn gửi cơ quan chức năng kiến nghị hoãn thi hành án và xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm”. Theo ông Kịch, dù bị truy tố theo Khoản 3 Điều 179 BLHS năm 1999, ông Nhân chỉ bị tuyên phạt 5 năm tù (đã bị tạm giam 812 ngày) đối chiếu Điều 67 BLHS năm 2015, đây là trường hợp có thể được xem xét hoãn chấp hành hình phạt tù. Đối với phần dân sự, Điều 48 Luật Thi hành án dân sự cho phép hoãn thi hành án khi cần thiết nhằm tránh phát sinh hậu quả pháp lí khó khắc phục.
![]() |
| Ông Nguyễn Văn Kịch phát biểu tại phiên toà. |
Ông Kịch ngậm ngùi: “Đến nay, các cấp Toà án chưa làm rõ có hay không thiệt hại thực sự. Trong khi đó, con trai tôi chỉ là bên vay vốn, không có chức vụ, quyền hạn trong ngân hàng và không có căn cứ về hành vi xúi giục, giúp sức hay tác động đến hoạt động thẩm định giá tài sản bảo đảm khoản vay. Thậm chí, trong quá trình xét xử, các cán bộ ngân hàng bị truy tố cùng vụ án cũng xác nhận con tôi không giúp sức hay tác động đến việc thẩm định tài sản, căn cứ nào để buộc tội con tôi là đồng phạm?”.
Ông Kịch cho biết thêm: Sau khi nhận được bản án phúc thẩm, Nhân đã chủ động trở về sinh sống tại Cần Thơ, cư trú thực tế và đăng kí tạm trú theo đúng quy định pháp luật tại địa chỉ 88/30 đường Lê Lai, phường Ninh Kiều, TP Cần Thơ. Đồng thời, Nhân cũng gửi văn bản đến TAND TP Cần Thơ và TAND TP Hồ Chí Minh đề nghị ghi nhận nơi cư trú. Việc này xuất phát từ quy định tại Điều 22 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Theo đó, trường hợp người bị kết án đang tại ngoại thì quyết định thi hành án phải ghi rõ người đó phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi cư trú. Do đó, việc xác định và ghi nhận đúng nơi cư trú có ý nghĩa quyết định đối với địa điểm tổ chức thi hành án. “Nhân luôn thể hiện thái độ hợp tác, sẵn sàng chấp hành khi được các cơ quan chức năng triệu tập và mong muốn việc thi hành án (nếu phải thực hiện) sẽ được tiến hành tại địa phương, nơi sinh sống để bảo đảm điều kiện thăm gặp của gia đình”, ông Kịch chia sẻ.
Liên quan đến vụ án, luật sư Vũ Văn Vinh, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho biết, đây là vụ án có nhiều vấn đề cần được xem xét một cách thấu đáo, cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn áp dụng pháp luật.
Theo luật sư, đầu tiên, bản án phúc thẩm bị cho là có dấu hiệu xác định sai thời điểm và phạm vi thiệt hại, khi tính thiệt hại tại thời điểm xét xử thay vì thời điểm khởi tố, không phù hợp với Nghị quyết: 03/2020/NQ-HĐTP của HĐTP TAND Tối cao. Bên cạnh đó, việc cộng lãi vay vào thiệt hại cũng bị cho là thiếu cơ sở pháp lí, do lãi vay không phải là thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và không phù hợp với bản chất tội danh.
![]() |
| Luật sư Vũ Văn Vinh, Đoàn Luật sư TP Hà Nội. |
Kế tiếp, cơ quan chuyên môn Thanh tra Chính phủ đã xác định việc định giá tài sản thế chấp trong vụ án là phù hợp, không có dấu hiệu nâng khống. Kết luận này đã được chính các cơ quan tiến hành tố tụng ghi nhận trong bản án. Cụ thể, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2024/HS-ST, Tòa án cấp sơ thẩm đã dẫn Kết luận số: 978/KL-TTCP của Thanh tra Chính phủ và kiến nghị cơ quan điều tra có thẩm quyền xem xét trách nhiệm cá nhân theo nội dung kết luận thanh tra. Tương tự, mục 12 “Kiến nghị” của Bản án hình sự phúc thẩm số: 314/2025/HS-PT ngày 17/9/2025, Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục đề nghị cơ quan điều tra cấp có thẩm quyền xem xét trách nhiệm các cá nhân theo Kết luận số: 978/KL-TTCP của Thanh tra Chính phủ. “Nếu làm trái với kết luận của Thanh tra Chính phủ, Tòa án yêu cầu cơ quan điều tra xem xét trách nhiệm cá nhân. Tuy nhiên, khi thực hiện đúng theo kết luận đó, Tòa án lại tuyên có tội và áp dụng hình phạt tù (!?). Người dân, doanh nghiệp và cán bộ ngân hàng phải làm như thế nào cho đúng pháp luật?”, luật sư đặt câu hỏi.
Cũng theo luật sư đáng chú ý là cách xử lý tài sản của các cấp tòa án. Cơ quan tiến hành tố tụng cho rằng, phần tiền còn dư sau khi phát mãi quyền sử dụng đất và công trình tại số 12 và số 51 đường Nguyễn Trãi, TP Cần Thơ sung quỹ Nhà nước vì là “tiền do phạm tội mà có”. Cách xác định này thiếu cơ sở pháp lí.
Tội danh bị truy cứu theo Điều 179 BLHS năm 1999 là “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”, không phải tội phạm “chiếm đoạt” hay tội phạm nhằm “thu lợi bất chính”, nên không thể mặc nhiên coi phần dư sau xử lý tài sản bảo đảm là “tiền do phạm tội mà có”. Theo Điều 307 BLDS năm 2015, phần giá trị còn lại sau khi xử lý tài sản thế chấp được hoàn trả cho bên thế chấp, và Điều 32 Hiến pháp năm 2013 bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp đối với phần tài sản này.
Thêm vào đó, tài sản được thế chấp từ năm 2012-2013, đến thời điểm năm 2024 đã trải qua hơn 12 năm. Trong khoảng thời gian này, giá trị tài sản tăng mạnh là hệ quả khách quan của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội, bao gồm lạm phát tích lũy qua các năm, tăng trưởng kinh tế, biến động mạnh của giá vàng, sự phát triển hạ tầng và các quyết định quy hoạch đô thị của Nhà nước. Đặc biệt, đối với các bất động sản nằm ở vị trí trung tâm đô thị lớn, nơi quỹ đất ngày càng khan hiếm, mức tăng giá phổ biến từ 6-8 lần, thậm chí có trường hợp tăng trên 15 lần.
“Bản án phúc thẩm lại xác định toàn bộ phần tăng giá của tài sản trong suốt hơn 12 năm, hình thành từ lạm phát, tăng trưởng kinh tế, quy hoạch của Nhà nước…, là “tài sản do phạm tội mà có” để sung quỹ Nhà nước. Quyết định này, bản án hình sự phúc thẩm, có dấu hiệu vượt ra ngoài những chuẩn mực pháp lý thông thường và cách áp dụng pháp luật cũng chưa phù hợp”, luật sư phân tích.
Luật sư nhận định, bản án có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong hoạt động định giá tài sản. Hồ sơ vụ án chỉ có Kết luận định giá của Hội đồng định giá Trung ương, không kèm hồ sơ định giá, phương pháp, quy trình, căn cứ hay tài liệu kiểm chứng, có dấu hiệu vi phạm Nghị định: 30/2018/NĐ-CP của Chính phủ; mọi kiến nghị bổ sung hồ sơ định giá đều không được chấp nhận. Kết luận định giá thiếu dữ liệu cơ bản của tài sản so sánh và không đáp ứng điều kiện hợp lệ theo BLTTHS năm 2015. Đáng chú ý, hơn 55% thành viên Hội đồng không đồng ý hoặc không có ý kiến, nên Kết luận định giá Trung ương không đủ điều kiện thông qua hợp lệ theo quy định pháp luật”.