Có ai sống mãi được đâu
Cùng suy ngẫm 08/04/2026 13:27
Toàn tập có hơn 100 bài thơ, cùng mấy mẩu tản văn, truyền tải tâm tư của tác giả trước diễn biến của cuộc sống. Tác giả có tên khai sinh là Nguyễn Thị Kim Nhung, quê quán Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc (cũ), nay là xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ; hiện sinh sống tại N70, đường Kim Giang, Định Công, TP Hà Nội. Có lẽ do đó, tác giả chọn lấy bút danh là “Kim Giang”. Thơ của tác giả Kim Giang phần lớn là dạng thơ tình, nhưng dĩ nhiên thơ tình của tác giả không phải tình như những cây viết trẻ, hoặc những cây viết tuổi teen, mà cái tình của tác giả Kim Giang trải rộng khắp, vừa yêu quê hương, đất nước, rồi đến những tâm lí, diễn biến của lứa đôi, gia đình…
![]() |
| Nguyễn Thị Kim Nhung, tác giả tập thơ “Tiếng lòng Kim Giang” |
Viết về lòng mẹ trong cơn đại dịch, khi con cháu không về được quê hương bản quán thăm mẹ, khiến mẹ thêm buồn, đến nỗi: “Dáng xuân năm tháng gầy vơi”. Người mẹ này, đương nhiên từng dứt ruột tiễn con ra chiến trường, từng ngày mong ngóng tin con, nên: “Xưa ngóng con ở chiến trường/ Vịn mòn bậu cửa lệ thường chan cơm”. Đọc câu này rõ ràng độc giả hiểu ngay cái sự mong ngóng người con ở chiến trường của mẹ không tầm thường, mà đến mức “Vịn mòn bậu cửa…”. Kèm theo nỗi mong ngóng dài đằng đẵng của mẹ là nỗi buồn chan chứa khi không nhận được tin con, nên lòng mẹ rưng rung đến độ “…lệ thường chan cơm”. Tác giả sử dụng ngôn từ này không phải đơn thuần mẹ chan cơm bằng nước mắt, mà ẩn ý rằng nỗi buồn của mẹ lớn lắm, không bao giờ yên được. Trở lại thời hiện tại, mẹ lại phải mong ngóng con cháu khi cơn đại dịch tràn qua, con cháu không về bên mẹ được, mặc dù: “Nay vườn rau quả chín thơm/ Đại dịch con cháu – chúng đương thế nào”. Rồi mẹ mong cầu “Cầu Ông, trời độ không sao!/ Hết dịch là chúng nó ào về ngay/ Mong manh dáng mẹ hao gầy…/ Thương con nhớ cháu tối ngày ngóng trông” (Lòng mẹ).
Với quê hương, tác giả có bài “Vĩnh Tường yêu thương”. Đây là bài thơ có cấu trúc giản dị, câu từ xuôi chiều, đơn giản chỉ là tả cảnh sinh hoạt nơi nguyên quán của tác giả, nên tác giả viết: “Đỏ như than lửa Rèn – Thùng/ Đứng bên Cao Đại thổi bùng giấc mơ…”. Rèn – Thùng là một nghề truyền thống ở Vĩnh Tường, còn Cao Đại là một xã của huyện Vĩnh Tường (cũ). Bài thơ này, tác giả tập trung tả những dấu ấn của huyện Vĩnh Tường (cũ), như: Chợ Đê, Đầm sen Tuân Chính; Bích Chu có nghề đan cót: “Bích Chu đan tấm cót dài/ Tương tư cất giữ một vài bồ thơ”. Đọc những câu thơ này, độc giả dễ mường tượng cảnh lao động, sinh hoạt của con người trên nguyên quán của tác giả. Tác giả cũng không quên kí ức của bản thân với trường lớp, với phong tục khi các cô gái trước khi lên xe hoa phải góp gạch xây đường làng, tác giả viết rất giản dị rằng: “Lê Xoay trường cũ ngày xưa/ Thầy Cô, lớp, bạn bây giờ ở đâu/ Gạch Bồ Sao chín tươi màu/ Xây đường làng áo cô dâu buông dài”… Qua loạt tả cảnh quê hương Vĩnh Tường, tác giả buông câu cảm thán: “Vĩnh Tường cắt rốn chôn nhau/ Mượn tình quê chắp từng câu trải lòng”. Ở đây độc giả cảm nhận được mối tình của tác giả với quê hương, nơi tác giả sinh ra và lớn lên.
![]() |
| Bìa cuốn thơ “Tiếng lòng Kim Giang” |
Nhưng tình cảm đối với quê hương được tác giả mô tả qua hình ảnh cái liềm qua bài “Cái liềm quê hương”. Cái liềm được tác giả sử dụng như hình ảnh tượng trưng, để gửi lòng mình trải dài theo kỉ niệm thời thơ ấu, thời tảo tần luống những nhọc nhằn của mẹ trên cánh đồng làng quê, tác giả viết: “Cái liềm một thuở thân quen/ Theo em cắt cỏ ngoèo sen tới bờ/ Cái liềm gặt lúa ngày xưa/ Thấm mồ hôi mẹ những trưa nắng hè”. Hình ảnh cuối bài thể hiện sự quan sát và liên tưởng rất tài tình của tác giả, khi mô tả cái liềm như dáng hình đất nước Việt Nam: “Cái liềm bay thực như mơ/ Cái liềm – dáng Việt ôm bờ biển xanh…!”.
Tình yêu lứa đôi được tác giả thể hiện bằng những vần thơ đầy nữ tính trong bài “Rụng về em”: “Em đem buồn vu vơ/ Thả khoảng trời riêng vắng/ Cánh diều hoà mây trắng/ Ánh mắt nồng trông theo/ Ơ này ơi cánh diều/ Hãy bay cao thật cao/ Lúc nào ngả nghiêng chao/ Hãy rụng về em nhé”. Ở đây tác giả sử dụng hình ảnh cánh diều như tình cảm của cô gái với người mình yêu, nhưng lại không thể giữ chặt hình ảnh người mình yêu cho riêng mình, nên mới đem nỗi buồn vu vơ, với ý nỗi buồn vu vơ không thể định nghĩa, nên “Em” mới đem thả vào khoảng trời, rồi giả đò cổ vũ cho “cánh diều”, tức hình ảnh người mình yêu, hãy bay cao thật cao, nhưng khi nào ngả nghiêng chao, thì hãy quay về với em: “Hãy bay cao thật cao/ Lúc nào ngả nghiêng chao/ Hãy rụng về em nhé”. Vì thế, cô gái trong bài thơ vẫn đặt niềm tin vào tình yêu của mình, khi: “- Nối ngàn sợi tóc mây/ Cho diều thêm ngây ngất/ Để khi diều chạm đất/ Yêu thương ngàn lần hơn”.
Đối với tình cảm lứa đôi, chồng – vợ, tác giả nêu ra nhiều tình huống để vừa hỏi, vừa trả lời và gửi câu nhắn nhủ đến người bạn đời: “Từ lúc nào anh đã nhãng quên/ Em cũng rất cần bờ vai điểm tựa/ Nếu cả hai nghiêng về nhau để dựa/ Kim tự tháp đời muôn thuở chấp nắng mưa”. Rồi tác giả lại nêu câu hỏi: “Minhg sẽ ra sao khi vắng xa một nửa/ Nếu vội vàng mang toàn lời nước lửa”. Hỏi như vậy rồi trả lời luôn: “Nguội lạnh rồi khó chữa tận nguồn cơn/ Biết nén kìm sẽ thấu hiểu nhau hơn”. Cứ như vậy suốt bài thơ là những câu hỏi, rồi trả lời cho từng tình huống, để rồi tác giả đi đến kết luận: “Thuyền neo về lòng bến sẽ bình yên”. Độc giả sẽ hiểu “thuyền” là ai và “bến” là ai và đây là lời nhắn nhủ, khi anh yên ổn về bên em, thì lòng em mới bình yên được.
Tập thơ tuy giản dị, với những ngôn từ không trải qua các kĩ xảo như tu từ, hoặc ẩn nghĩa, đa nghĩa… nhưng rất đáng đọc, để vừa hiểu thêm về triết lí cuộc sống, mà cũng có thể thư giãn sau những ngày giờ lăn lộn mưu sinh.