Giải quyết "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng góp vốn" của Công ty TNHH Quảng Hưng tại khu công nghiệp Tân Tạo, TP Hồ Chí Minh:

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Một vụ “kỳ án” bị kéo dài gần chục năm mới được TAND TP. Hồ Chí Minh đưa ra xét xử sơ thẩm; TAND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm với Quyết định y án sơ thẩm. Nguyên đơn là 5 nạn nhân người cao tuổi (5 nguyên thành viên hợp pháp của Công ty TNHH Quảng Hưng) đều suy ngẫm rằng công lý pháp luật vẫn còn đó, dẫu cho là đến muộn. Ấy thế mà, nay lại phát sinh tiếp một sự việc “lạ lẫm” có nhiều bất thường …

“Lạ lẫm” thể hiện ở một Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm (QĐKNGĐT) số 01/2022/KN-KDTM ngày 12/1/2022 của TAND Tối cao có nhiều nội dung không khách quan, có “ý đồ” cắt xén thể hiện bóp méo sự thật để diễn giải vụ án một cách không đúng quy định pháp luật; thậm chí dùng những chứng cứ đã được Cục Điều tra Viện KSND Tối cao kết luận đó là chứng cứ chứng minh hành vi sai phạm pháp luật, lấy làm “căn cứ mấu chốt” để ra QĐKNGĐT (?!)

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 01/2022/KN-KDTM ngày 12/1/2022 của TAND Tối cao

Sau khi nhận QĐKNGĐT, 5 người cao tuổi, gồm ông Trần Tuấn Minh, sinh năm 1950; bà Lâm Thị Lệ, sinh năm 1954; bà Diệp Thú Huệ, sinh năm 1960; cụ Lâm Thị Dục, sinh năm 1938; ông Lâm Văn Trọng, sinh năm 1958, cùng kí “Đơn khiếu nại khẩn cấp” đối với QĐKNGĐT, gửi Tạp chí Người cao tuổi.

5 người trên, là nguyên đơn trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng vốn góp” kéo dài đến nay đã hơn 10 năm, trải qua 2 đời Thẩm phán giải quyết bằng Bản án sơ thẩm số 1130/2020/KDTM-ST ngày 31/7/20202 của TAND TP. Hồ Chí Minh và Bản án phúc thẩm số 11/2021/KDTM-PT ngày 29/1/2021 của TAND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh.

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Trang 11
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Bản án sơ thẩm số 1130/2020/KDTM-ST ngày 31/7/2020 của TAND TP. Hồ Chí Minh

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Trang 15
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Bản án phúc thẩm số 11/2021/KDTM-PT ngày 29/1/2021 của TAND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện có nhiều bất thường từ những nội dung phần xét thấy của QĐKNGĐT.

Tại đoạn văn thứ nhất: Trang 3 phần xét thấy của QĐKNGĐT có nội dung: “Theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 072919 đăng ký lần đầu ngày 22/10/1999 thì Công ty trách nhiệm hữu hạn Quảng Hưng (Công ty Quảng Hưng) có vốn điều lệ 2.000.000.000 đồng do 5 thành viên sáng lập gồm ông Trần Tuấn Minh, bà Lâm Thị Lệ, bà Diệp Thú Huệ, bà Lâm Thị Dục, ông Lâm Văn Trọng; ngày 23/5/2006, đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ 8 thì Công ty Quảng Hưng có vốn điều lệ là 8.800.000.000 đồng vẫn với 5 thành viên nêu trên do ông Minh làm Giám đốc – đại diện theo pháp luật.

Như vậy, QĐKNGĐT khẳng định 5 nguyên đơn đều là các thành viên hợp pháp của Công ty Quảng Hưng, vì đã được đăng ký hợp pháp và được Cơ quan pháp quyền Nhà nước công nhận theo quy định pháp luật.

Và ở nội dung tiếp theo (trang 3 phần xét thấy của QĐKNGĐT): “Ngày 22/3/2007, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, ông Minh đại diện cho Công ty Quảng Hưng (bên A) tự thỏa thuận và xác nhận: Toàn bộ việc thuê mua nhà xưởng và máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu gọi chung là tài sản cố định và lưu động hiện có của Công ty Quảng Hưng là thuộc quyền sở hữu của bên B (Công ty TNHH Ying Jenn – Đài Loan – có ông Huang Pao Tzu làm Tổng Giám đốc); đến ngày 30/3/2007, bên A (Công ty Quảng Hưng) bàn giao toàn bộ thủ tục pháp lý, tài sản cố định và hoạt động sổ sách, chứng từ cho bên B, bên A cam kết nội dung giữa bên A và bên B thỏa thuận trong Biên bản này các thành viên góp vốn trong Công ty Quảng Hưng như Lâm Thị Lệ, Lâm Văn Trọng, Diệp Thú Huệ, Lâm Thị Dục không có khiếu nại gì; nếu khiếu nại thì bên A chịu hoàn toàn trước pháp luật.”

Tuy nhiên, nội dung trên trích lại trong cái gọi là “Biên bản làm việc ngày 22/3/2007” của riêng cá nhân ông Trần Tuấn Minh bị ép ký trong một cảnh huống bất lợi và có dấu hiệu trái pháp luật hoàn toàn, vì được dàn dựng diễn ra ở trong Cơ quan C15B, Bộ Công an phía Nam. Cụ thể là “Biên bản làm việc ngày 22/3/2007” do điều tra viên C15B tự tay soạn thảo, tự tay viết trên “giấy caro trắng” trái với nguyên tắc quy định của Ngành Công an. Và Biên bản làm việc ngày 22/3/2007, đã bị Cục Điều tra Viện KSND Tối cao kết luận là “chứng cứ” chứng minh sai phạm pháp luật của số cán bộ điều tra viên C15B, thể hiện trong phần nội dung “Nhận xét và đề nghị” của Kết luận điều tra, các BL số 1534-1532)

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Trang 2
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Trang 3
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Trang 4
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Trang 5
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Kết luận điều tra số 336/VKSTC-C6 ngày 14/10/2009 của VKSNDTC

Kết luận điều tra số 336/VKSTC-C6, nêu rõ: “Khi Phòng 10- C15B xác minh đơn của ông Huang Pao Tzu đã xác định được đây là một vụ tranh chấp về mặt dân sự, tranh chấp về quyền sở hữu Công ty Quảng Hưng thì Phòng 10- C15B phải chấm dứt việc xác minh và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến TAND TP. Hồ Chí Minh giải quyết về mặt dân sự mới đúng quy định của pháp luật. Nhưng Phòng 10- C15B lại lập biên bản làm việc lúc 15 giờ 30 ngày 22/3/2007 giữa các bên đương sự với nhau, thực chất đây là biên bản hòa giải thì đúng hơn. Biên bản này lại không có mặt của những người tham gia góp vốn vào Công ty Quảng Hưng đã được Sở Kế hoạch và Đầu tư và UBND TP. Hồ Chí Minh xác nhận trong thủ tục pháp lý của Công ty TNHH Quảng Hưng, mà chỉ do ông Trần Tuấn Minh đại diện. Hơn nữa về chức năng và nhiệm vụ của Phòng 10- C15B là Phòng điều tra các tội phạm về tố tụng trong lãnh vực kinh tế. Do vậy việc làm trên của cán bộ Phòng 10- C15B là trái với chức năng nhiệm vụ. Vì các lẽ trên, nhận thấy việc ông Trần Tuấn Minh tố cáo Lê Xuân Nam và Lê Thanh Hùng, cán bộ Phòng 10 C15B lạm dụng chức vụ, quyền hạn là đúng và có căn cứ” (trang 5 của Kết luận điều tra số 336/VKSTC-C6).

Rõ ràng, một hành vi, một chứng cứ sai phạm trái pháp luật đã được cấp có thẩm quyền tối cao về điều tra kiểm sát tư pháp tố tụng kết luận rồi, thì tại sao nay lại được “biến hóa” trở thành căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm? Thậm chí, làm căn cứ đề nghị hủy Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm của vụ án? Vậy với lý lẽ như thế có đúng quy định của pháp luật hay không? Rõ ràng đây là một tình tiết thể hiện có sự bất thường thứ nhất.

Tại đoạn văn thứ hai: Cuối trang 3 và đầu trang 4 phần xét thấy của QĐKNGĐT, có nội dung: “Ngày 23/3/2007, toàn bộ 5 thành viên Công ty Quảng Hưng (ông Minh, bà Lệ, ông Trọng, bà Huệ, bà Dục) ký Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ là 8.800.000.000 đồng cho bà Phan Lê Bảo Hương và bà Phan Lê Kim Liên. Sau đó, ngày 25/3/2007, ông Minh, Giám đốc Công ty thông báo thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh Công ty Quảng Hưng từ 5 thành viên sang 2 thành viên là bà Hương, bà Liên và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ 9 ngày 12/4/2007.”

“Tại các Biên bản hòa giải, bà Hương và bà Liên xác nhận chỉ là người đứng tên giùm Huang Pao Tzu nhận chuyển nhượng vốn góp của các thành viên Công ty Quảng Hưng nhưng chưa thanh toán tiền chuyển nhượng. Ông Huang Pao Tzu cũng thừa nhận chưa thanh toán tiền chuyển nhượng vì cho rằng Công ty Quảng Hưng thuộc sở hữu của ông).”

Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án, có Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ của Công ty Quảng Hưng đề ngày 23/3/2007 (hoặc ngày 25/3/2007) với nội dung là không có thực và nhiều điểm thể hiện trái quy định pháp luật.

Một, sự kiện lập Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ giữa 5 thành viên Công ty Quảng Hưng (ông Minh, bà Lệ, ông Trọng, bà Huệ, bà Dục) với bà Phan Lê Bảo Hương và bà Phan Lê Kim Liên. 5 thành viên trên bị ép ký trong cảnh huống dù không được nhận đồng nào mà vẫn phải cùng ký vào dòng chữ được in sẵn “Đã nhận đủ số tiền 8,8 tỉ đồng” là tiền bán Công ty Quảng Hưng cho 2 người (bà Hương, bà Liên) xa lạ mà cả 5 thành viên không hề quen biết và giá mua bán là do 2 người này tự in ra. Việc này đã được Cơ quan điều tra Viện KSND Tối cao xác minh, kết luận rõ ràng tại trang 5 của Kết luận điều tra số 336/VKSTC-C6 (BL số 1532).

Hai, sự thật hồ sơ thể hiện ông Huang Pao Tzu không có trả đồng tiền nào về chuyển nhượng, có dấu hiệu đã “cưỡng chiếm” hết cả Công ty Quảng Hưng là tài sản hợp pháp của 5 thành viên người Việt Nam, bằng nhiều thủ đoạn trái với luật định; thậm chí, hồ sơ cũng thể hiện ông Huang Pao Tzu đã thao túng chỉ đạo việc giải thể và bán sạch để tẩu tán tất tần tật tài sản Công ty Quảng Hưng. Vậy thì những hành vi này của ông Huang Pao Tzu có vi phạm pháp luật Việt Nam?

Ba, hồ sơ chuyển nhượng phần vốn góp của Công ty Quảng Hưng, thể hiện vi phạm nghiêm trọng quy định của Luật Doanh nghiệp 2005.

Thực tế, bà Phan Lê Bảo Hương và bà Phan Lê Kim Liên không phải là thành viên sáng lập của Công ty Quảng Hưng. Về pháp lý, thời điểm ngày nhận chuyển nhượng (25/3/2007), tất nhiên phải áp dụng quy định Điều 44 Luật Doanh nghiệp 2005.

Tại điểm 2 Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2005, quy định: “Chuyển nhượng phần vốn góp - Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán.”. Ấy thế mà, trong 2 văn bản “Thông báo về việc từ chối mua phần vốn được chuyển nhượng trong công ty” (“Thông báo”; BL số 2251) và “Biên bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng phần vốn góp” (BL số 2250=>2249), đã có thể hiện 2 việc này được thực hiện cùng trong ngày 25/3/2007 là trái với quy định tại điểm 2 Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2005. Vì vậy, “Thông báo” này hiển nhiên là chứng cứ chứng minh thêm hồ sơ của việc “chuyển nhượng Công ty Quảng Hưng” là trái pháp luật và không có giá trị pháp lý.

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Thông báo về việc từ chối mua phần vốn được chuyển nhượng trong công ty

Mặt khác, chính các Bị đơn là Phan Lê Bảo Hương, Phan Lê Kim Liên (bên nhận chuyển nhượng) đã xác nhận chỉ là “đứng tên dùm” cho ông Huang Pao Tzu trong việc ký kết “Biên bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng phần vốn góp ngày 25/3/2007”. Nhưng việc “đứng tên dùm” này lại được giấu giếm, không kê khai trung thực với cơ quan thẩm quyền theo quy định, là vi phạm điều cấm được quy định tại khoản 3 Điều 11 Luật Doanh nghiệp năm 2005; và trên thực tế các bên cũng không có thực hiện giao dịch này.

Như vậy rõ ràng hồ sơ chuyển nhượng toàn bộ vốn góp của Công ty Quảng Hưng nói trên, trong đó có “Biên bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng phần vốn góp ngày 25/3/2007” giữa các nguyên đơn với bà Hương và bà Liên đã được Tòa án 2 cấp chứng minh rõ bản chất là hoàn toàn giả dối, không có thực, không có ý chí tự nguyện của các bên giao kết và có thể hiện vi phạm các quy định và điều cấm của Luật Doanh nghiệp năm 2005. Tuy nhiên, QĐKNGĐT lại phớt lờ tránh né không nói đến những hành vi vi phạm pháp luật của các bị đơn như nêu trên? Rõ ràng đây là điều bất thường thứ hai.

Tại đoạn văn thứ 5 trang 4 phần xét thấy của QĐKNGĐT, có nội dung: “Nguyên đơn (5 thành viên sáng lập của Công ty Quảng Hưng) khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp là vô hiệu. Do việc chuyển nhượng vốn góp Công ty Quảng Hưng xuất phát từ thỏa thuận ngày 22/3/2007 nêu trên giữa ông Minh (đại diện Công ty Quảng Hưng) và ông Huang Pao Tzu (đại diện Công ty Ying Jenn) mà không có sự đồng ý của ông Trọng, bà Lệ, bà Huệ, bà Dục và bên nhận chuyển nhượng lại là bà Hương, bà Liên (mà không phải là Công ty Ying Jenn như các bên đã thỏa thuận); đồng thời, các bên chưa thanh toán tiền chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp 8.800.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp vô hiệu theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.”

Tuy nhiên, nội dung trên, thể hiện cố tình bất chấp nguyên tắc giữa khái niệm “hành vi hợp pháp” (đúng pháp luật) và “hành vi bất hợp pháp” (trái pháp luật), nhằm đánh tráo, che lấp bản chất hành vi trái luật của các bị đơn trong vụ án, thể hiện nhằm đánh lừa dư luận theo hướng có lợi cho ông Huang Pao Tzu.

Sự việc lập Biên bản làm việc (thoả thuận) ngày 22/3/2007 là hành vi áp đặt trái pháp luật đã được Cơ quan có thẩm quyền tối cao về điều tra kiểm sát tư pháp tố tụng kết luận là “chứng cứ” chứng minh hành vi trái pháp luật, như đã nói ở trên.

Các thành viên (5 nguyên đơn) hoàn toàn không hề có ý định bán Công ty Quảng Hưng hoặc chuyển nhượng toàn bộ vốn góp của Công ty Quảng Hưng! Thực tế việc mua bán, chuyển nhượng hoàn toàn là một sự kiện cưỡng ép, có dấu hiệu cưỡng đoạt trắng trợn một Công ty doanh nghiệp Việt Nam hợp pháp đã liên tục nhiều năm hoạt động kinh doanh hợp pháp và luôn được hoàn thành nghĩa vụ thuế với Nhà nước (các nguyên đơn đã trình bày với các chứng cứ hợp pháp có trong hồ sơ vụ án); hoàn toàn không phải là việc thuần túy “chưa thanh toán” như nội dung đoạn văn thứ 5 trên; và trong quá trình hơn chục năm giải quyết vụ án và đã qua 2 cấp Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm thẩm tra, phúc tra, xét xử.

Và nội dung cuối trang 7 và 8 Bản án sơ thẩm, khẳng định: “Do đó, yêu cầu của các nguyên đơn đòi tuyên bố vô hiệu giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp nói trên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 122 và Điều 127 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (có hiệu lực thi hành tại thời điểm xác lập giao dịch), nên cần được chấp nhận. Áp dụng Điều 137 của Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp nói trên không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập; đổng thời, về nguyên tắc, các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Các nguyên đơn đã có yêu cầu hoàn trả tài sản và bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc giao kết hợp đồng vô hiệu nói trên”.

Như vậy, QĐKNGĐT khẳng định “Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp vô hiệu theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ”, là phù hợp hồ sơ vụ án. Nhưng QĐKNGĐT lại kiến nghị hủy 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm, đây là điều bất thường thứ ba.

Tại đoạn văn thứ 6 trang 4 phần xét thấy của QĐKNGĐT, có nội dung: “Bị đơn là ông Huang Pao Tzu có yêu cầu phản tố cho rằng Công ty Quảng Hưng thuộc quyền sở hữu của mình vì cho rằng ông nhờ ông Minh đứng tên hộ, ông Minh đã có thỏa thuận toàn bộ tài sản của Công ty và quyền điều hành công ty là của ông. Tòa án chưa xác minh ý kiến các thành viên còn lại của Công ty về tài sản của Công ty có nguồn gốc của ông Huang Pao Tzu hay không, để xác định giá trị Công ty làm cơ sở giải quyết hậu quả hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp vô hiệu là thiếu sót.”

Tuy nhiên, nói ông Huang Pao Tzu có yêu cầu phản tố là không có cơ sở! Bởi các lẽ sau:

Trong Tờ trình ngày 23/5/2017 của Thẩm phán Phan Gia Quí gửi Chánh án TAND TP. Hồ Chí Minh có nói rõ: “Vì đơn ngày 26/5/2011 của bị đơn ghi tiêu đề là đơn phản tố nhưng nội dung trong đơn chỉ là lời khiếu nại của bị đơn cho rằng vốn góp của Công ty TNHH Quảng Hưng là vốn của ông Huang Pao Tzu chứ không phải là đơn phản tố. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 4/1/2017, khi ấy mặc dù bên nguyên đơn có nêu thắc mắc về việc này nhưng bên bị đơn vẫn im lặng…” (BL số 2032);

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Tờ trình ngày 23/5/2017 của Thẩm phán Phan Gia Quí gửi Chánh án TAND TP. Hồ Chí Minh (BL số 2032)

Trong Quyết định giải quyết khiếu nại số 372/2017/QĐ-GQKN ngày 25/5/2017 của Chánh án TAND TP. Hồ Chí Minh (BL số 2034) cũng có nội dung kết luận tương tự đối với việc phản tố của bị đơn nêu trên;

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Quyết định giải quyết khiếu nại số 372/2017/QĐ-GQKN ngày 25/5/2017 của Chánh án TAND TP. Hồ Chí Minh

Và trong nội dung Bản án sơ thẩm, phần Nhận định của Tòa án ghi rõ: “… Mặt khác, ông Huang Pao Tzu cũng không có yêu cầu phản tố trong vụ án này để xác định phần vốn góp thuộc sở hữu của mình trong số vốn góp mà ông Trần Tuấn Minh đứng tên trong Công ty Quảng Hưng nên lập luận của đại diện và Luật sư của ông Huang Pao Tzu không có cơ sở để xem xét

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Đoạn văn đầu trang 10 Bản án sơ thẩm

Tương tự, trong Biên bản phiên tòa sơ thẩm phần phát biểu của Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm có nhận định vấn đề về đơn yêu cầu phản tố của Bị đơn ông Huang Pao Tzu: “Ngày 26/5/2011, ông Huang Pao Tzu có đơn yêu cầu phản tố nhưng nội dung là phản bác lại những lời trình bày của Nguyên đơn. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, tại phiên tòa bị đơn khai chưa nộp tạm ứng án phí, đồng thời không có yêu cầu phản tố nên không đặt vấn đề giải quyết.”

Chưa hết, theo Bản án phúc thẩm số: 11/2021/KDTM-PT ngày 29/01/2021, đại diện Viện KSND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh nêu quan điểm giải quyết vụ án: “Đối với yêu cầu của bị đơn ngày 26/5/2011 chỉ là yêu cầu phản bác chứ không phải yêu cầu phản tố. Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự thống nhất không thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện và không có yêu cầu phản tố. Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.” (theo nguyên văn ở trang số 10); và ở phần Nhận định của Tòa án: “Đối với việc bị đơn nêu Tòa án cấp sơ thẩm bỏ sót việc giải quyết yêu cầu phản tố theo đơn đề ngày 26/5/2011. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận định: Giấy phép thành lập Công ty TNHH Quảng Hưng do Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì Công ty TNHH Quảng Hưng là Công ty trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên trở lên (ngoài thành viên là ông Huang Pao Tzu và ông Trần Tuấn Minh thì Công ty Quảng Hưng còn có các thành viên khác góp vốn theo tỷ lệ nêu trong giấy phép); ông Huang Pao Tzu không có chứng cứ chứng minh cho việc các thành viên trong Công ty (là nguyên đơn) đứng tên giùm cho mình. Nên lý do ông Huang Pao Tzu nêu Công ty TNHH Quảng Hưng có 100% vốn của ông Huang Pao Tzu (ông Minh chỉ đứng tên giùm) để đề nghị Tòa bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận. Mặt khác, từ nhận định trên, căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự thì nội dung trình bày trong đơn ngày 26/5/2011 của bị đơn không phải là yêu cầu phản tố mà chỉ là ý kiến phản bác chứng minh cho việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều này còn được thể hiện thông qua ý chí của đại diện bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm (BL số 2633, Biên bản phiên tòa ngày 1 tháng 7 năm 2020) người đại diện theo ủy quyền của ông Huang Pao Tzu trình bày không có yêu cầu phản tố”.(Trang 14 Bản án phúc thẩm).

Như vậy QĐKNGĐT quy trách nhiệm cho Hội đồng xét xử của 2 Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm là thiếu sót (vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng) khi không xem xét yêu cầu phản tố của bị đơn ông Huang Pao Tzu, trong khi tất cả đều được “giấy trắng mực đen” thể hiện rành rành như vừa nêu trên! Đây là điều bất thường thứ tư.

Tại đoạn văn thứ 7 và thứ 8 ở trang 4 và trang 5 phần xét thấy của QĐKNGĐT, có nội dung: “Mặt khác, theo Hợp đồng thuê mua nhà xưởng số 108/HĐ-NX-2000 ngày 22/11/2000 giữa Công ty đầu tư xây dựng kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Tân Tạo (Công ty Tân Tạo) và Công ty Quảng Hưng thì Công ty Tân Tạo cho Công ty Quảng Hưng thuê mua lại nhà xưởng với diện tích khuôn viên là 7.623m2, diện tích xây dựng là 4.822,5m2 (trong đó lô 7 nhà xưởng là 2.612,5m2, lô 9 nhà xưởng là 1.970m2 và văn phòng là 240m2, với giá thuê mua phần diện tích nhà xưởng là 2 USD/m2/tháng, văn phòng 3 USD/m2/tháng.”

“Như vậy, theo Hợp đồng thuê mua nhà xưởng nêu trên thì các bên chỉ có thỏa thuận về giá thuê mua nhà xưởng, văn phòng chứ không phải toàn bộ khuôn viên đất và các bên cũng không có thỏa thuận về chuyển nhượng hay thuê QSDĐ. (?) Thực tế, cho đến thời điểm Công ty Quảng Hưng giải thể (năm 2010) thì Công ty Quảng Hưng chưa có giấy chứng nhận QSDĐ, đến năm 2012 Công ty Tân Tạo mới được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, trên giấy chứng nhận này không có thông tin về việc Công ty Tân Tạo cho Công ty Quảng Hưng thuê đất. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm lại xác định Công ty Quảng Hưng có quyền sử dụng đối với toàn bộ khuôn viên đất (7.623m2) để tính toán giá trị của Công ty Quảng Hưng, trong đó có giá trị QSDĐ và nhà xưởng trên đất được định giá là 45.062.000.000 đồng, từ đó buộc ông Huang Pao Tzu, bà Hương, bà Liên có trách nhiệm liên đới bồi thường theo tỷ lệ số tiền Công ty Quảng Hưng đã thanh toán cho Công ty Tân Tạo (60,58%) giá trị hợp đồng thuê mua với Công ty Tân Tạo (1.245.510 USD) là không có cơ sở, không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, gây thiệt hại cho các bị đơn. (?)”

Vậy sự thật là như thế nào?

Một, cần phân biệt rạch ròi về khái niệm ý nghĩa, tính chất pháp lý và bản chất sự thật của Hợp đồng thuê mua nhà xưởng số 108/HĐ-NX-2000 ngày 22/11/2000 (“TMNX số 108”) giữa Công ty Tân Tạo và Công ty Quảng Hưng (BL số 1517=>1514); và các chứng cứ hợp pháp trong hồ sơ vụ án để nói rõ một số dấu hiệu khuất tất trong nội dung đoạn văn thứ 8 nêu trên:

Về tính chất pháp lý, bản chất sự thật của Hợp đồng thuê muabán trả chậm tài sản có bao gồm quyền sở hữu trong tương lai với các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng. Còn về tính chất pháp lý của Hợp đồng thuê thì chỉ là “thuần túy thuê”, nên đây không có vấn đề về quyền sở hữu tài sản tương lai gì cả. Vì vậy 2 loại hợp đồng vừa nói là hoàn toàn khác biệt về khái niệm, bản chất và tính chất pháp lý. Đây rõ ràng là những nguyên tắc cơ bản của luật định và phổ biến trong việc ký kết hợp đồng.

Về nhà xưởng và khuôn viên đất tại Lô số 7, 9, nguyên là trụ sở Công ty Quảng Hưng do 5 thành viên (các nguyên đơn) mua trả chậm (trả góp) với bản chất hợp đồng là thuê mua trả góp cho Công ty Tân Tạo theo Hợp đồng TMNX số 108. Với giá thuê mua: 9.885 USD/tháng/kỳ, trả trong 120 kỳ (10 năm), cộng với số tiền là 6 kỳ tiền cọc trả trước sẽ là tổng giá trị của 2 nhà xưởng và quyền sử dụng của diện tích khuôn viên đất nêu trên được quản lý và sử dụng theo điều khoản của Hợp đồng TMNX số 108.

Hợp đồng TMNX số 108 là Hợp đồng thuê mua nhà xưởng chứ không phải Hợp đồng thuê ! Bằng chứng là trong Báo cáo tài chính hằng năm của Công ty Quảng Hưng (của 5 nguyên đơn), Cục thuế TP. Hồ Chí Minh đều chấp nhận cho Công ty Quảng Hưng được trích “khấu hao tài sản” đang sử dụng của 2 nhà xưởng trên theo tổng giá trị của Hợp đồng TMNX số 108, chứ không có chấp nhận cho lấy số “tiền thuê mua nhà xưởng” hằng năm của Công ty Quảng Hưng được xem là khoản “chi phí kinh doanh” để trừ hết vào phần thu nhập chịu thuế theo luật định. Như vậy, Cục Thuế đã căn cứ vào tính chất pháp lý của nội dung Hợp đồng TMNX số 108 (được ghi rõ tại khoản 6.1 Điều 6 của hợp đồng) thì 2 nhà xưởng trên là loại tài sản thuộc đối tượng thuê mua trả chậm, nên mới được trích “khấu hao tài sản” hằng năm theo quy định của pháp luật.

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Hợp đồng thuê mua nhà xưởng số 108/HĐ-NX-2000 ngày 22/11/2000

Với chứng cứ và sự thật đã rành rành như nêu trên, sao QĐKNGĐT lại cho rằng: “Theo Hợp đồng thuê mua nhà xưởng nêu trên thì các bên chỉ có thỏa thuận về giá thuê mua nhà xưởng, văn phòng chứ không phải toàn bộ khuôn viên đất và các bên cũng không có thỏa thuận về chuyển nhượng hay thuê quyền sử dụng đất? Sao lại cố tình “cải biến tính pháp lý” của Hợp đồng TMNX số 108 thành một hợp đồng thuấn túy thuê với mục đích gì?

Về nội dung:“Thực tế, cho đến thời điểm Công ty Quảng Hưng giải thể (năm 2010) thì Công ty Quảng Hưng chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2012 Công ty Tân Tạo mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên giấy chứng nhận này không có thông tin về việc Công ty Tân Tạo cho Công ty Quảng Hưng thuê đất”. Sự thật là thế nào?

Sự kiện biến cố cưỡng đoạt trái pháp luật nêu trên, đã gây cho Công ty Quảng Hưng bị nửa chừng giải thể, trong đó có việc thanh lý trước thời hạn Hợp đồng TMNX số 108 (thực tế là vào đầu năm 2007, chứ không phải năm 2010), các bị đơn đã bị cưỡng đoạt mất đi doanh nghiệp là Công ty Quảng Hưng hợp pháp, bằng nhiều thủ đoạn hoàn toàn trái với pháp luật. Đó là hậu quả của chuỗi hành vi thể hiện dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam của các bị đơn và ông Huang Pao Tzu. Sự việc này đều đã được chứng minh bằng các chứng cứ hợp pháp trong hồ sơ vụ án (có kết luận của Cơ quan điều tra Viện KSND Tối cao và qua sự thẩm tra, phúc tra rất kỹ lưỡng và xét xử công khai của các phiên tòa, Bản án của 2 Tòa cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm).

Xin nói rõ thêm về Hợp đồng TMNX số 108. Công ty Quảng Hưng (5 thành viên- nguyên đơn) đã thực hiện trả tiền thuê mua nhà xưởng được 60.58% nghĩa vụ theo những điều thỏa thuận trong hợp đồng (trong cả quá trình thực hiện Hợp đồng TMNX số 108, 5 thành viên không hề sai trái hay trễ ngày hẹn về phần nghĩa vụ của mình). Đối với con số 60.58% nghĩa vụ nêu trên, đã được nhiều chứng cứ hợp pháp chứng minh và cũng đã được qua sự thẩm tra, phúc tra rất kỹ lưỡng, có ghi rõ trong Bản án của 2 Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm. Trong nội dung của QĐKNGĐT cũng không có kháng nghị đối với vấn đề này và không có kháng nghị đối với nội dung nhận định của 2 cấp Tòa án về các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam của các bị đơn và ông Huang Pao Tzu. Vì thế, đây cũng chính là một trong những mấu chốt sự thật của vụ án đã được ánh sáng công lý pháp luật Việt Nam soi sáng.

Ba, về nội dung: “… Đến năm 2012 Công ty Tân Tạo mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (“CNQSDĐ”), trên Giấy chứng nhận này không có thông tin về việc Công ty Tân Tạo cho Công ty Quảng Hưng thuê đất”. Vậy thực tế là như thế?

Nếu thực sự đúng là: “… Đến năm 2012 Công ty Tân Tạo mới được cấp giấy CNQSDĐ”, thì chẳng lẽ Công ty Tân Tạo là một công ty Cổ phần được UBND TP. Hồ Chí Minh cấp phép làm dự án phát triển hạ tầng khu công nghiệp trong khi chưa có được Cơ quan thẩm quyền cấp quyền sử dụng đất mà dám tự đi xây cất “nhà xưởng lậu” để công khai ký Hợp đồng TMNX số 108 bán cho Công ty Quảng Hưng hay sao?

Trong khi, hồ sơ vụ án thể hiện có 1 giấy Chứng nhận công trình xây dựng hoàn thành số 65/CN-BQL-KCN ngày 28/11/2001 (BL số 1488) của 2 nhà xưởng lô số 7-9 tại Đường số 1 doBan quản lý các khu chế xuất và công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (“Hepza TP. Hồ Chí Minh”) cấp cho Công ty Tân Tạo (chính 2 nhà xưởng này là Công ty Tân Tạo đã ký HĐTMNX số 108 với Công ty Quảng Hưng). Trong giấy chứng nhận ghi rõ là căn cứ: “Quyết định số 2252/QĐ-UB-QLDA ngày 21/4/1999 của UBND TP. Hồ Chí Minh về việc cho phép đầu tư xây dựng kho, xưởng để cho thuê hoặc bán trả chậm của Công ty TNHH Đầu tư xây dựng kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp tập trung Tân Tạo (Công ty Tân Tạo); Quyết định phê duyệt thiết kế và cho phép xây dựng số 18/2001/QĐ-BQL-KCN ngày 1/2/2001 của Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp TP. Hồ Chí Minh”.

Ngoài rađăng ký kinh doanh và đăng ký thuế công ty cổ phần số 0302670307 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh cấp, đăng ký lần đầu ngày 15/7/2002, số ĐKKD: 4103001108, đăng ký thay đổi lần thứ 14 ngày 3/2/2010” (trích nguyên văn).

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Giấy CNQSDĐ, QSHNO và tài sản khác gắn liền với đất số: BI 408200

Và trang 2 của giấy trên, ghi:Thửa đất: 176; tờ bản đồ: 53; địa chỉ Lô 7-9-11 đường số 1,Khu công nghiệp Tân Tạo;Thời gian sử dụng: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất theo Quyết định số 3026/QĐ-UB-ĐT ngày 15/5/2000 của UBND TP. Hồ Chí Minh”; phần ghi chú có nội dung: “Giấy chứng nhận này được cấp do tách thửa và bổ sung chứng nhận tài sản gắn liền với đất theo hồ sơ số 001510, được tách từ GCNQSDĐ số 00005/1a QSDĐ/2106/UB ngày 17/7/2000 do UBND TP. Hồ Chí Minh cấp và thay thế Quyết định số 18/2001/QĐ-BQL-KCN và số 19/2001/QĐ-BQL-KCN cùng ngày 1/2/2001, Giấy chứng nhận công trình xây dựng hoàn thành số 65/CN-BQL-KCN ngày 28/11/2001 và số 66/CN-BQL-KCN cùng ngày 28/11/2001 đều do Ban quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TP. Hồ Chí Minh cấp” (trích nguyên văn).

Như vậy, sao QĐKNGĐT lại cho rằng: “… Đến năm 2012, Công ty Tân Tạo mới được cấp GCNQSDĐ”? Và “trên giấy chứng nhận này không có thông tin về việc Công ty Tân Tạo cho Công ty Quảng Hưng thuê đất”?

Chưa hết, trong hồ sơ vụ án còn có 1 hợp đồng thuê mua nhà xưởng số: 142/HĐ-TMNX/KD-07 (“HĐTM số: 142”) ngày 25/5/2007 (ký giữa Công ty Tân Tạo và Công ty Ta Shuan về việc thuê mua trả chậm của 2 nhà xưởng Lô 7- 9, mà thời điểm ấy là thuộc quyền Công ty Quảng Hưng đang thuê mua và đang sử dụng; BL số: 1523=>1520). Tuy là Hợp đồng TMNX số 142 mang số mới và ông Huang Pao Tzu lấy chiêu bài của Công ty Ta Shuan của ông để ký kết với Công ty Tân Tạo và cứ khăng khăng nói đó là 1 Hợp đồng thuê mua nhà xưởng khác biệt nhằm giở trò “đánh lận con đen”! Thế nhưng, trong nội dung của Hợp đồng TMNX số 142 thể hiện rõ là để thực hiện tiếp tục phần trả chậm còn lại chưa hoàn tất của Công ty Quảng Hưng đối với 2 nhà xưởng trên, và thực tế đã được chứng minh bằng chứng cứ đanh thép hợp pháp trong hồ sơ vụ án, là “Biên bản thỏa thuận thuê lại đất và mua bán tài sản gắn liền với đất ngày 8/8/2012 giữa Công ty Ta-Shuan với Công ty Tân Tạo” (BL số 1504=>1503).

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Hợp đồng thuê mua nhà xưởng số 142/HĐ-TMNX/KD-07 (“HĐTM số: 142”) ngày 25/5/2007

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ của Công ty Quảng Hưng đề ngày 25/3/2007

Trong Biên bản trên thể hiện rõ ràng Công ty Ta Shuan chỉ có bắt đầu trả tiền thuê mua của 2 nhà xưởng Lô 7-9 từ ngày 6/7/2007 với số hóa đơn: 55016 và chỉ phải trả tổng cộng 49 kỳ đến ngày 5/5/2011 với số hóa đơn: 0000380 thì thôi. Vậy thì hiển nhiên Công ty Ta Shuan chỉ có đóng trả khoảng 40% tiền thuê mua trả chậm của tổng giá trị thuê mua 2 nhà xưởng tại Lô 7- 9, Đường số 1 nêu trên, nhưng mà 2 nhà xưởng đó lại đã được Công ty Ta Shuan và Công ty Tân Tạo thực hiện việc công chứng mua bán chuyển nhượng tại Ban Quản lý Hepza TP. Hồ Chí Minh (?!) Có nghĩa là Công ty Ta Shuan đã được hưởng trọn vẹn 100% giá trị tài sản và giá trị quyền sử dụng đất của 2 nhà xưởng tại Lô 7- 9, trong khi chứng cứ đã thể hiện Công ty Ta Shuan chỉ có trả khoảng 40% tiền thuê mua như nêu trên.

Vì vậy, lẽ tất nhiên hoàn toàn có căn cứ chứng minh là Công ty Ta Shuan là “thụ hưởng” luôn phần giá trị tương đương 60,58% của tổng giá trị tài sản và giá trị quyền sử dụng đất của 2 nhà xưởng tại Lô 7- 9 trên. Nhưng nguyên thủy nguồn gốc của 2 nhà xưởng vốn là phần quyền lợi ích tài sản hợp pháp do Công ty Quảng Hưng đã trả góp được trong nhiều năm để phục vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh, mà nay đã bị cưỡng đoạt mất! Hiện nay rõ ràng tài sản tích lũy hợp pháp trên của các nguyên đơn đang bị ông Huang Pao Tzu dùng chiêu bài Công ty Ta Shuan để chiếm hữu sử dụng trái pháp luật mười mấy năm, mà ngược lại các nguyên đơn thì bị thiệt hại nặng nề cùng ngần thời gian ấy.

Sự thật đã được chứng minh rõ mười mươi! Hiện Công ty Quảng Hưng đã bị bà Phan Lê Bảo Hương cùng ông Huang Pao Tzu giải thể trái pháp luật như đã trình bày ở các phần trong đơn và không thể khôi phục được. Do đó, các nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc các bị đơn phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường lại phần quyền lợi ích tài sản đã được nguyên đơn chứng minh là trị giá tương đương 60,58% của tổng giá trị tài sản và giá trị quyền sử dụng đất của 2 nhà xưởng tại Lô 7- 9, Đường số 1, Khu công nghiệp Tân Tạo, là hoàn toàn có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.

Với những nội dung trên đây thể hiện điều bất thường thứ năm.

Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Nhiều bất thường từ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Biên bản thỏa thuận thuê lại đất và mua bán tài sản gắn liền với đất ngày 8/8/2012 giữa Công ty Ta-Shuan với Công ty Tân Tạo

Nguyện vọng của những người cao tuổi

Ông Trần Tuấn Minh, đại diện các nguyên đơn là 5 người cao tuổi, khẳng định: “Trong hồ sơ vụ án có Bản Kết luận điều tra số: 336/VKSTC-C6 ngày 14/10/2009 của Viện KSND Tối cao; có Biên bản phiên tòa của các phiên tòa; quan điểm của Đại diện Viện KSND; nhận định của Tòa án trong Bản án của 2 Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm… đây là những bằng chứng đanh thép, hợp pháp và hiện hữu được pháp luật công nhận. Và Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ vốn góp của các thành viên trong Công ty Quảng Hưng ngày 25/3/2007 đã được Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm và TAND Tối cao cùng nhận định là vô hiệu. Vì vậy chúng tôi căn cứ vào các chứng cứ hợp pháp có thật này, để trình bày chứng minh tính chất sự thật và tình tiết khách quan của vụ án và đồng thời cũng chứng minh các lý lẽ căn cứ và

Xin được nói rõ thêm: Theo quy định của khoản 1 Điều 326 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau: Thứ nhất, kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Thứ hai, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật. Thứ ba, có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

Tuy nhiên, toàn bộ nội dung QĐKNGĐT, không có nội dung nào chứng minh được trong Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm có nội dung vi phạm quy định của khoản 1 Điều 326 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trên. Điều này rõ ràng không có cơ sở để ra QĐKNGĐT đối với Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm. Đây chính là cơ sở để chúng tôi tha thiết kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao công tâm cẩn trọng xem xét mọi ý kiến trình bày từ tâm can của những người dân Việt Nam trong cảnh ngộ bi đát thống thiết như chúng tôi và mong cầu được xét xử công minh vô tư và thượng tôn pháp luật đúng theo quy định của pháp luật”. Ông Trần Tuấn Minh chia sẻ.

Nhóm PVPL

Theo dòng sự kiện

Tin liên quan

Cùng chuyên mục

Người dân khốn khổ vì sống chung với ô nhiễm, mất an toàn giao thông

Người dân khốn khổ vì sống chung với ô nhiễm, mất an toàn giao thông

Ô nhiễm môi trường, mất an toàn giao thông chính là những hệ lụy khi người dân thôn Khe Sím, xã Dương Huy, TP Cẩm Phả phải gánh chịu khi sống chung bên đường vận tải chuyên dụng của ngành than và đường dân sinh. Trong đó, có Công ty than Dương Huy và Công ty Than Quang Hanh.
Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai chỉ đạo giải quyết đơn khiếu nại

Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai chỉ đạo giải quyết đơn khiếu nại

Ngày 21/4/2022, Tạo chí Ngày mới online đăng bài viết phản ánh: Ông Phan Văn Thành, Chủ nhiệm HTX Dịch vụ sản xuất nông nghiệp Gò Me (HTX Gò Me) có đơn khiếu nại Kết luận thanh tra số 2519/KL-UBND ngày 11/3/2022 của UBND tỉnh Đồng Nai (Kết luận số 2519), yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, giải quyết nhiều nội dung. Và Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai chỉ đạo giải quyết đơn khiếu nại (Văn bản số 4801/UBND-TCD ngày 17/5/2022, “V/v tham mưu xử lý, giải quyết đơn khiếu nại của HTX Gò Me”, của UBND tỉnh Đồng Nai gửi Chánh Thanh tra tỉnh Đồng Nai).
Huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ: Xe vi phạm về tải trọng bùng phát trở lại.

Huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ: Xe vi phạm về tải trọng bùng phát trở lại.

Thời gian gần đây, từng đoàn xe tải trọng lớn, chở quá tải, có dấu hiệu cơi nới kích thước chiều cao thành thùng, trở đầy “có ngọn”, che chắn sơ sài chạy tung tăng các tuyến đường giao thông của thị trấn Thanh Thủy nhưng không bị cơ quan chức năng ngăn chặn xử lý, gây bức xúc trong dư luận…,
Đại gia Lê Ân yêu cầu cấp sổ đỏ theo quyết định của bản án hành chính có hiệu lực pháp luật từ năm 2015

Đại gia Lê Ân yêu cầu cấp sổ đỏ theo quyết định của bản án hành chính có hiệu lực pháp luật từ năm 2015

Ngày 9/5/2022, ông Lê Ân đại diện Hội đồng tự xử lý thanh lý và giải thể pháp nhân Ngân hàng TMCP Vũng Tàu (VCSB) có “Đơn kiến nghị” gửi Chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (BR-VT), về việc đơn của Hội đồng thanh lý VCSB ngày 10/8/2020, yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho VCSB, nhưng đến nay hơn 2 năm vẫn chưa được giải quyết và cũng không cho biết lý do.
Quận 12, TP. Hồ Chí Minh: Sao “quên” quyền lợi của ông Lương Trọng Yêm?

Quận 12, TP. Hồ Chí Minh: Sao “quên” quyền lợi của ông Lương Trọng Yêm?

Tại Thông báo số 28/TB-UB ngày 9/4/2004, UBND TP. Hồ Chí Minh khẳng định năm 1989, năm hộ làm giấy trả toàn bộ 20.560m2 đất cho bà Đặng Thị Nhàng và ông Lương Trọng Yêm toàn quyền sử dụng, có xác nhận chữ ký của chính quyền địa phương. Nhưng cũng tại thông báo này, UBND TP. Hồ Chí Minh lại kết luận ông Yêm không có quyền sử dụng đất hợp pháp và “quên” việc bồi thường về thu hồi đất cho ông Yêm. Điều mâu thuẫn này dẫn đến khiếu nại kéo dài …

Tin khác

Bản án sơ thẩm chưa làm rõ nhiều tình tiết của vụ án

Bản án sơ thẩm chưa làm rõ nhiều tình tiết của vụ án
Ngày 29/4, TAND TP Thuận An xử sơ thẩm vụ án “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo đó, bị cáo Nguyễn Trung Hiếu bị phạt 3 năm tù. Gia đình bị hại cho rằng, bản án chưa công minh, nhiều tình tiết của vụ án chưa được làm rõ ...

Đại gia Lê Ân tiếp tục đề nghị ngăn chặn cấp sổ đỏ chiếm của dự án Làng du lịch Chí Linh

Đại gia Lê Ân tiếp tục đề nghị ngăn chặn cấp sổ đỏ chiếm của dự án Làng du lịch Chí Linh
Đại gia Lê Ân tiếp tục có đơn đề nghị UBNDTP. Vũng Tàu ngăn chặn việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) trong dự án Làng du lịch Chí Linh. Bởi toàn bộ diện tích đất thực hiện dự án Công ty TNHH Lê Hoàng đã đền bù giải tỏa hết diện tích để có đất sạch mới được phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500.

Dự án bị tố gây thiệt hại cả ngàn tỉ đồng nhếch nhác, úng ngập!

Dự án bị tố gây thiệt hại cả ngàn tỉ đồng nhếch nhác, úng ngập!
Tháng 7/2021, Tạp chí Người cao tuổi và Ngày mới Online đăng bài “Dự án Gofl Valley Đà Lạt: Nhà nước thất thoát cả ngàn tỉ đồng!?”, phản ánh việc Trung tướng Trịnh Lương Hy, nguyên Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh (Bộ Công an) tố cáo lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng giao đất cho Tập đoàn Trung Nam triển khai Khu Công viên Văn hóa - Đô thị Đà Lạt (dự án Gofl Valley) gây thiệt hại rất lớn cho ngân sách…

Có nhiều dấu hiệu cần phải xem xét để xử lý nghiêm minh

Có nhiều dấu hiệu cần phải xem xét để xử lý nghiêm minh
Vụ án liên quan đến quyền sử dụng đất (QSDĐ) 1.688,5m2 thửa số 54, tọa lạc số 36 Lê Văn Khương, phường Thới An, quận 12, TP Hồ Chí Minh, được Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT), Bộ Công an vào cuộc điều tra, kết luận có dấu hiệu tội phạm nhưng không truy cứu trách nhiệm hình sự do đối tượng đã chết. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều đối tượng liên quan lộ rõ dấu hiệu vi phạm pháp luật chưa được xử lý, …

Đại gia Lê Ân đề nghị ngăn chặn việc cấp sổ đỏ chiếm đất của dự án Làng du lịch Chí Linh

Đại gia Lê Ân đề nghị ngăn chặn việc cấp sổ đỏ chiếm đất của dự án Làng du lịch Chí Linh
Ngày 7/4/2022, ông Lê Ân, Giám đốc và đại diện pháp luật Công ty TNHH Lê Hoàng, ở số 414/27 Nguyễn Hữu Cảnh, phường 10, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có Đơn gửi Chủ tịch UBND phường 10 và Chủ tịch UBND TP Vũng Tàu đề nghị ngăn chặn “về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho dân không được chồng lấn lên đất Dự án Công ty TNHH Lê Hoàng đã được phê duyệt quy hoạch 1/500”.

Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ, xử lý nghiêm nếu có sai phạm

Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ, xử lý nghiêm nếu có sai phạm
Sau khi Ngày mới Online (Tạp chí Người cao tuổi) đăng bài: "Thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình: Cần làm rõ tố cáo về khuất tất tài chính, vu khống, hành hung nhân viên xảy ra ở trường THCS Quảng Thọ”, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo cơ quan chức năng có liên quan làm rõ vụ việc để xử lý nghiêm, nếu có sai phạm.
Xem thêm
Cựu Thứ trưởng Bộ Y tế Trương Quốc Cường bị tuyên phạt 4 năm tù

Cựu Thứ trưởng Bộ Y tế Trương Quốc Cường bị tuyên phạt 4 năm tù

Cựu Thứ trưởng Bộ Y tế Trương Quốc Cường được xác định đã thực hiện không đúng, không đầy đủ trách nhiệm được giao, đồng ý xét duyệt cấp số đăng ký thuốc trong khi hồ sơ không đủ điều kiện cấp, dẫn đến hậu quả 6/7 loại thuốc giả nhãn mác Health 2000 được
Cần xử lý nghiêm xe chở hàng cồng kềnh, quả tải

Cần xử lý nghiêm xe chở hàng cồng kềnh, quả tải

Xe quá tải, quá khổ, chở hàng cồng kềnh hiện là mối lo chung của người tham gia giao thông, song sẽ là “hiểm họa” khi những phương tiện này lưu thông trên đường cao tốc. Ghi nhận của phóng viên Tạp chí Ngày mới trên tuyến cao tốc Hạ Long – Hải Phòng.
Ngày 18/5 xét xử phúc thẩm mẹ nữ sinh giao gà ở Điện Biên

Ngày 18/5 xét xử phúc thẩm mẹ nữ sinh giao gà ở Điện Biên

Ngày mai 18/5, TAND Cấp cao tại Hà Nội sẽ mở phiên tòa phúc thẩm để xét xử bị cáo Trần Thị Hiền (SN 1975, mẹ nữ sinh C. M. D.) và bị cáo Vì Thị Thu (SN 1982) về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Sao không xử lý các công trình vi phạm trật tự xây dựng?

Sao không xử lý các công trình vi phạm trật tự xây dựng?

Phản ánh tới Ngày mới Online, nhiều công trình ở phố cũ, phố cổ trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội vẫn có dấu hiệu vi phạm trật tự xây dựng nhưng không được xử lý dứt điểm. Nhiều người cao tuổi cho rằng, có dấu hiệu các công trình sai phạm trên có sự “tiếp tay”, thậm chí “bao che” của chính quyền sở tại….
Người dân bị “hành” khi làm thủ tục xin cấp sổ đỏ

Người dân bị “hành” khi làm thủ tục xin cấp sổ đỏ

Đất đai có nguồn gốc rõ ràng, sử dụng ổn định từ hơn 30 năm. Thế nhưng, khi đăng kí xin cấp sổ đỏ, chủ đất liên tục bị gây khó đến bất ngờ(!?)
Cần làm rõ trách nhiệm cá nhân tập thể liên quan

Cần làm rõ trách nhiệm cá nhân tập thể liên quan

​​​​​​​Hàng loạt sai phạm trong sử dụng đất, hủy hoại đất, xây dựng các công trình trái phép trên đất không được phép xây dựng diễn ra trong một thời gian dài tại xã Thiện Kế, thị trấn Gia Khánh thuộc huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc) nhưng không được cấp có t
Cần áp dụng các biện pháp quyết liệt, xử lý triệt để các “dự án ma”

Cần áp dụng các biện pháp quyết liệt, xử lý triệt để các “dự án ma”

Mặc dù, một số địa phương hiện rất quyết liệt xử lý các “dự án ma”. Tuy nhiên, các dự án “ma” hiện vẫn còn “đất dụng võ”. Trong khi đó, biện pháp chế tài của cơ quan chức năng có thể chưa đủ mạnh, hữu hiệu cho “căn bệnh” nan y này, ông Hồ Minh Sơn, Viện trưởng Viện IRMIC chia sẻ.
Mức lương hưu theo Luật BHXH

Mức lương hưu theo Luật BHXH

Hỏi: Tôi (58 tuổi) đã đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) được 30 năm 8 tháng thì nghỉ hưu theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong quyết định này, tôi chỉ được hưởng lương hưu tỉ lệ là 69%. Vậy, vì sao tôi không được hưởng mức lương hưu tối đa là 75%? Căn cứ theo quy định cụ thể nào? Trần Văn Duy (huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang)
Thủ tục thay đổi tên khai sinh

Thủ tục thay đổi tên khai sinh

Hỏi: Con trai tôi năm nay được 15 tuổi, nay tôi muốn đổi tên khai sinh cho cháu có được không? Nếu được thì thủ tục thế nào? (Trần Văn Đỗ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn)
Phiên bản di động