Bà đừng làm như thế
Đời sống 30/04/2026 10:11
Từ năm 1954 đến ngày 30/4/1975, với tinh thần “Chiến trường cần gì, Vĩnh Linh sẵn sàng đáp ứng”, quân và dân Vĩnh Linh đã hết lòng, hết sức chi viện sức người, sức của cho chiến trường Trị - Thiên ruột thịt. Quân, dân các địa phương sát cánh cùng các đơn vị bộ đội chủ lực đã lập nên nhiều chiến công xuất sắc. Đằng sau những chiến công ấy là muôn vàn gian khổ, hi sinh và nhiều nỗi niềm không đong đếm được. Câu chuyện chỉ cách một con sông mà gần 20 năm không được về thăm nhà của ông Dương Thế Thú, sinh năm 1937, ở thôn An Du Nam 1, xã Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị là một nỗi niềm như thế.
![]() |
| Từ năm 1954 đến năm 1973, chiến sĩ công an vũ trang giới tuyến Dương Thế Thú không được về thăm ba, mẹ để bảo đảm tính bí mật, an toàn của nhiệm vụ |
Năm 1954, ông Thú tham gia lực lượng công an vũ trang giới tuyến, làm nhiệm vụ tuần tra canh gác, chiếm lĩnh các vị trí dọc giới tuyến ở bờ Bắc sông Bến Hải, còn ba mẹ ông thì ở xã Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị. “Vì đặc thù công việc, mọi hoạt động của tôi và các chiến sĩ trong lực lượng công an giới tuyến khu vực Vĩnh Linh lúc bấy giờ đều trong vòng bí mật, hoặc phục vụ tại các đồn dọc giới tuyến. Mỗi khi có nhiệm vụ phải tuần tra qua bờ Nam sông Bến Hải, chúng tôi đều phải cải trang và không được để lộ danh tính, bởi nếu địch biết có công an vũ trang xuất hiện thì sẵn sàng bắn ngay chứ không cần bắt hay giam, khám”, ông Thú kể lại. Lực lượng công an giới tuyến như ông Thú luôn đối mặt với hiểm nguy trong những lần vừa tuần tra kiểm soát giới tuyến vừa đánh trả địch ném bom phá hoại, hay những lần phải vượt sông cấp tốc đưa thông tin liên lạc từ bờ Bắc trao đổi với cảnh sát bờ Nam và ngược lại. Năm 1962, ông Thú nên duyên với một người con gái ở bờ Bắc sông Bến Hải. Sau đám cưới, ông và vợ đã chia xa, gác lại tình riêng để cùng chung vai vun đắp cho khối “tình chung” - tình yêu Tổ quốc. Điều giúp họ khỏa lấp nỗi nhớ nhung, động viên nhau vượt qua bao gian khổ của chiến tranh chính là những cuộc gặp chóng vánh khi ông đi làm nhiệm vụ, tạt qua nơi bà làm việc, những cánh thư chan chứa lý tưởng, niềm tin, sự lạc quan và cả niềm thương nỗi nhớ đã nuôi lớn tình yêu của họ đến ngày đoàn tụ. Mãi cho đến năm 1973, khi Quảng Trị giải phóng, ông Thú mới được về thăm nhà, thăm ba mẹ sau gần 2 thập kỷ đằng đẵng nhớ thương. Ông tâm sự: “Tôi sẽ không nhắc nhiều đến hi sinh, gian khổ trong chiến tranh, bởi thế hệ chúng tôi lúc đó chỉ có một lý tưởng là làm sao cho nước nhà được thống nhất. Với tôi, được chiến đấu và sống trong hòa bình như lúc này là hạnh phúc hơn những đồng đội đã ngã xuống khi chưa kịp nhìn thấy dòng Hiền Lương nối đôi bờ”.
![]() |
| O Ngô Thị Thọ (ngồi trước) và đồng đội là o Lê Thị Xảo ôn lại những ký ức hào hùng một thời từng trực chiến tại bến đò B Tùng Luật năm xưa |
Về Bến đò B Tùng Luật, xã Cửa Tùng hôm nay, tiếng gió vi vu bên màu xanh của cây trái đã thay cho tiếng súng, tiếng bom. Mảnh đất lịch sử này là nơi bao người đã từng chiến đấu, cống hiến và hi sinh cả thanh xuân cho độc lập dân tộc. Chúng tôi gặp o Ngô Thị Thọ, từng là một nữ dân quân làm nhiệm vụ trực chiến tại bến đò B Tùng Luật từ năm 1967 đến năm 1973. O nói: “Lúc đó, tôi được vào một tiểu đội gồm 12 người trong đó có 6 nữ đều là những người bơi, chèo giỏi. Tiểu đội có nhiệm vụ ban ngày phục vụ sản xuất và chiến đấu, ban đêm chèo thuyền vận chuyển vũ khí, lương thực; đưa bộ đội chủ lực vượt sông Bến Hải vào chiến trường miền Nam; đưa thương binh, liệt sĩ về tuyến sau”. Nhìn o Thọ đi lại khó khăn, chúng tôi hỏi ra mới biết o từng nhiều lần bị thương trong khi làm nhiệm vụ, trong đó có những lần cận kề cái chết. Năm 1968, trong một chuyến đò đưa bộ đội qua sông, khi o và một đồng chí nam trở về bờ Bắc thì gặp trận tấn công của địch. Thấy máy bay địch trút bom xuống quá gần, o bàn với đồng đội lặn hẳn xuống sông, chỉ dùng tay đẩy thuyền để tránh địch nhìn thấy. Thuyền vừa vào tới bến thì một mảnh bom trút xuống ngay dưới chân o. Mặc dù bị thương nhưng o cố “giấu”, chỉ báo với đơn vị một vết thương nhỏ, để được tiếp tục “chèo đò kháng chiến”. O Thọ xúc động kể: “Nói làm sao hết nỗi niềm của những thanh niên vừa mười tám, đôi mươi lúc đó. Có những lần chở thương binh, liệt sĩ từ chiến trường trở về, tôi không khỏi xúc động, bàng hoàng khi nhìn những khuôn mặt chiến sĩ rất trẻ, điển trai nhưng đã lạnh ngắt, chằng chịt vết thương. Biết họ là những sinh viên miền Bắc viết đơn xin nhập ngũ, có lẽ chưa từng một lần được nắm tay con gái, tôi khẽ nắm tay từng đồng chí như một lời tạm biệt”. Mặc dù thường xuyên hứng chịu bom đạn của địch nhưng tại bến đò B Tùng Luật, quân và dân xã Vĩnh Giang đã đưa đón hàng triệu lượt người từ bờ Bắc sang bờ Nam. Tại đây cũng đã chuyên chở hàng nghìn thương binh, tử sĩ và người dân từ bờ Nam sang bờ Bắc; vận chuyển hàng trăm chuyến hàng ra đảo Cồn Cỏ. Những o dân quân như o Thọ đã làm việc không quản đêm thâu, mưa dầm hay gió bấc, họ không nghĩ nhiều đến sống, chết mà chỉ luôn nghĩ làm sao cho tròn nhiệm vụ. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày non sông thống nhất, người dân nơi “lũy thép” Vĩnh Linh vẫn đang viết tiếp những trang sử tươi đẹp, từ ký ức hào hùng năm xưa để làm nên những kỳ tích trong thời đại mới.