Củng cố khối đại đoàn kết từ công tác dân tộc, tôn giáo
Nghiên cứu - Trao đổi 30/04/2026 09:21
Trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, quân và dân ta đã thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975).
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn tạm thời nằm dưới quyền kiểm soát của Mỹ - ngụy. Căn cứ đặc điểm tình hình đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960) đề ra đường lối chung cho cách mạng Việt Nam: “Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền: “Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước”(1). Sau đó, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được Đảng ta chính thức thành lập vào ngày 20/12/1960. Ngày 15/2/1961, tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được Đảng ta thành lập.
Trung ương Đảng nhận định: Sau trận Ấp Bắc (tháng 1/1963), Mỹ đã nhận thấy không thể thắng được ta. Sau Chiến dịch Bình Giã (từ ngày 2/12/1964 đến ngày 3/1/1965), Mỹ lại nhận thấy có thể thua ta.
![]() |
| Tại Hà Nội vào tháng 4/1975, Quân ủy Trung ương theo dõi diễn biến của Chiến dịch Hồ Chí Minh. |
Đánh giá về thắng lợi của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) đã nêu rõ: Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó đã đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris.
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam mở Cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Kết quả, Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đã giành thắng lợi to lớn, làm chuyển biến căn bản cục diện chiến tranh. Thắng lợi này cùng với thắng lợi của trận “Điện Biên Phủ trên không” (12/1972) của quân dân miền Bắc đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris (ngày 27/1/1973) và rút hết quân ra khỏi miền Nam nước ta.
Việc Mỹ rút quân sau Hiệp định Paris (27/1/1973) đã tạo cơ hội rất lớn cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tuy nhiên, khi Hiệp định còn chưa ráo mực, bất chấp khát vọng hòa bình của Nhân dân Việt Nam, Mỹ và ngụy Sài Gòn đã ra sức phá hoại Hiệp định Paris, thực hiện kế hoạch “bình định, lấn chiếm” bằng thủ đoạn “tràn ngập lãnh thổ”.
Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương, khóa III (10/1973) họp, ra Nghị quyết nêu rõ: Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng.
Đến hết năm 1973, trên toàn miền Nam, lực lượng cách mạng đã giành và giữ quyền làm chủ được 8.500 ấp, với khoảng 4 triệu dân (chưa tính số ấp và dân vùng tranh chấp). Từ đầu năm 1974, quân ta ở các chiến trường trên toàn miền Nam chuyển sang phản công và tiến công, quyết tâm đánh bại âm mưu lấn đất, giành dân, từng bước đẩy lùi địch về thế phòng ngự bị động. Đến giữa 1974, quân dân toàn miền Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 10 vạn tên địch các loại, tiêu diệt, bức hàng, bức rút 1.450 đồn bốt, giải phóng khoảng 50 vạn dân; mở ra một vùng giải phóng rộng lớn kéo dài suốt từ Tây Nguyên đến tận Đông Nam Bộ, tạo thế áp sát Sài Gòn.
Ngày 21/7/1974, tại Đồ Sơn (Hải Phòng) đã diễn ra cuộc họp quan trọng dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng với các đồng chí trong Quân ủy Trung ương và Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu. Tại cuộc họp, các đồng chí tham dự đều thống nhất đánh giá đây là thời cơ thuận lợi nhất để Nhân dân ta hoàn thành giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc dân chủ, đồng thời giúp Lào và Campuchia hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngoài thời cơ này, không có thời cơ nào khác. Nếu không tận dụng thời cơ, bọn ngụy gượng dậy và các thế lực xâm lược được hồi phục thì tình hình sẽ phức tạp vô cùng. Thời cơ này đòi hỏi phải làm nhanh, làm gọn, làm triệt để, nhưng phải khôn khéo, có như thế mới tạo được bất ngờ, làm cho quân địch và các thế lực thù địch khác không kịp trở tay. Phải xây dựng kế hoạch chiến lược sao cho tạo được thời cơ chiến lược và sẵn sàng chớp thời cơ. Kết thúc cuộc họp, đồng chí Lê Duẩn giao cho Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu soạn thảo Kế hoạch tác chiến chiến lược giải phóng miền Nam để trình Bộ Chính trị vào tháng 9/1974.
![]() |
| Xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập 30/4/1975. |
Dự thảo “Kế hoạch tác chiến chiến lược giải phóng miền Nam” đã được “Tổ trung tâm” Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu hoàn thành ngày 26/8/1974. Nội dung kế hoạch gồm hai bước. Bước 1 (thực hiện trong năm 1975), tranh thủ bất ngờ tiến công lớn và rộng khắp. Bước 2 (thực hiện trong năm 1976), thực hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Từ ngày 30/9 đến 8/10/1974, Bộ Chính trị họp và cơ bản nhất trí với nội dung bản dự thảo “Kế hoạch tác chiến chiến lược giải phóng miền Nam” do Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị; đồng thời quyết định: Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, đánh chiếm Sài Gòn, sào huyệt trung tâm của địch và các thành, thị khác, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà. Phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để. Hội nghị nhất trí lấy Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu năm 1975.
Thực hiện kế hoạch trên của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, hai miền Nam, Bắc khẩn trương hoàn tất các mặt chuẩn bị, cả về thế và lực. Miền Bắc đã chi viện 11 vạn bộ đội, vận chuyển hơn 400.000 tấn vật chất vào miền Nam. Những quân đoàn chủ lực cũng được thành lập. Trong đó, Quân đoàn 1 thành lập ngày 24/10/1973, Quân đoàn 2 thành lập ngày 17/5/1974, Quân đoàn 4 thành lập ngày 20/7/1974, Quân đoàn 3 thành lập ngày 26/3/1975 (khi đang trong quá trình đánh Tây Nguyên), Đoàn 232 (sau đổi tên thành Binh đoàn cánh Tây Nam, tương đương quân đoàn) thành lập vào tháng 2/1975. Quân dân ta cũng xây dựng được hệ thống mạng lưới đường xá, hệ thống đường ống dẫn xăng dầu, hệ thống dây thông tin liên lạc nối từ Bắc vào Nam.
Từ ngày 18/12/1974 đến ngày 8/1/1975, Bộ Chính trị họp Hội nghị mở rộng có các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy từ chiến trường ra tham dự. Đúng lúc này, tin thắng lợi của Chiến dịch Đường 14 - Phước Long (từ ngày 13/12/1974 đến ngày 6/1/1975) báo về thực sự là minh chứng sống động khẳng định quân đội ngụy Sài Gòn không còn đủ sức chống chọi với Quân Giải phóng; Mỹ cũng không thể đưa quân can thiệp trở lại miền Nam Việt Nam. Giải phóng tỉnh Phước Long cũng đã mở ra cửa ngõ, bàn đạp tiến công Sài Gòn từ phía Bắc. Do đó, Bộ Chính trị đã nhanh chóng thông qua Quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, đồng thời dự kiến nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam vào năm 1975.
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, quân và dân ta đã mở Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4/3 đến ngày 3/4/1975), giành thắng lợi vẻ vang. Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên đã xóa sổ hoàn toàn Quân đoàn 2, Quân khu 2 của ngụy Sài Gòn, giải phóng địa bàn chiến lược Tây Nguyên và một số tỉnh Trung Bộ, làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng, thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến lược của ta phát triển thành tổng tiến công trên toàn miền Nam Việt Nam. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trong cuốn “Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng” đã viết: Chiến thắng Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã tạo sức mạnh toàn diện mới. Điều quan trọng là nó đã tạo ra sự thay đổi cơ bản về tinh thần, tư tưởng, về so sánh lực lượng, về thế chiến lược giữa ta và địch.
Ngày 18/3/1975, Bộ Chính trị bổ sung quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975. Ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị bổ sung quyết tâm giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975.
Chiến dịch Trị Thiên - Huế (từ ngày 5 đến ngày 26/3/1975) và Chiến dịch Đà Nẵng (từ ngày 26 đến ngày 29/3/1975) được tiến hành. Ngày 26/3/1975, Huế được giải phóng và ngày 29/3/1975, Đà Nẵng được giải phóng đã khiến toàn bộ lực lượng Quân đoàn 1, Quân khu I của ngụy Sài Gòn bị tiêu diệt và tan rã.
Ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị họp, nhận định: Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt, mà thời cơ để mở tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu.
Xuân Lộc là một thị xã thuộc tỉnh Long Khánh, cách Sài Gòn 60km về phía Đông Bắc là phòng tuyến trọng tâm để địch ngăn Quân ta cơ động theo Đường 1 và Đường 20 đánh vào Biên Hòa và Sài Gòn. Từ ngày 9 đến 16/4/1975, ta mở Chiến dịch Xuân Lộc. Chiến dịch tiến công Xuân Lộc thắng lợi đã đập tan “cánh cửa thép” phía Đông, làm rung chuyển cả hệ thống phòng thủ còn lại của địch ở quanh Sài Gòn, làm suy sụp nhanh tinh thần chiến đấu của quân ngụy. Thắng lợi của chiến dịch đã tạo ra một địa bàn tập kết thuận lợi cho các binh đoàn chủ lực tiến công vào Sài Gòn từ hướng Đông.
Ngày 4/4/1975, Quân uỷ Trung ương giao cho Khu 5 và lực lượng hải quân tiến công giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Từ ngày 14 đến ngày 29/4/1975, toàn bộ các đảo trên được giải phóng.
Ngày 21/4/1975, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu từ chức để cao chạy xa bay. Trong một bài nói chuyện tại Trường Đại học Tunale vào ngày 23/4/1975, Tổng thống Mỹ Gerald Ford đã nêu rõ: Cuộc chiến tranh đã kết thúc đối với người Mỹ.
Ngày 26/4/1975, Quân ta bắt đầu mở Chiến dịch Hồ Chí Minh với lực lượng áp đảo, gấp 3 lần lực lượng quân đội ngụy tại Sài Gòn. Tham gia chiến dịch có 4 quân đoàn (1, 2, 3, 4) và Binh đoàn cánh Tây Nam (tương đương quân đoàn) cùng lực lượng vũ trang địa phương và Nhân dân trên địa bàn chiến dịch. Về binh khí, kỹ thuật, Quân ta đã tập trung được 516 khẩu pháo mặt đất, 550 tên lửa và pháo phòng không, 1 đại đội máy bay A37, 320 xe tăng, xe thiết giáp, 1.600 xe kỹ thuật chiến đấu, hơn 10.000 xe vận tải, 60.000 tấn vật chất (15.000 tấn đạn)… Năm cánh quân của Quân ta vượt qua tuyến phòng thủ của địch để tiến vào trung tâm Sài Gòn, đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch.
Vào 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh buộc phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Sài Gòn được giải phóng. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng.
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 cũng đã làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam.
Sự chi viện to lớn của hậu phương miền Bắc là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) đã khẳng định: “Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa; miền Bắc đã dốc vào cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước”(2).
Bên cạnh đó, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) là thành quả của tình đoàn kết chiến đấu, gắn bó keo sơn giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, cùng với sự giúp đỡ to lớn, quý báu của các nước xã hội chủ nghĩa anh em; sự đồng tình, ủng hộ, cổ vũ của Nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12/1976) đã đánh giá: “Năm tháng sẽ trôi qua nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc” (3).
(1)Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 916.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự Thật, Hà Nội,1977, tr.28-29.
(3)Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 471