Lão nông “đánh thức” gốc tre ven sông Thu Bồn
Đời sống 30/05/2026 11:28
Khu rừng rộng hơn 5 ha của ông Niệm hiện có hơn 2.000 cây lim, 500 cây sưa, 500 cây vàng tâm và 5.000 cây trầm dó cùng nhiều cây gỗ bản địa quý hiếm khác. Riêng gỗ lim, hiện ông Niệm là người duy nhất ở Quảng Trị sở hữu một rừng lim lớn đến vậy. Những cây lim được ông Niệm lượm nhặt từ rừng đem về trồng, chăm chút hàng chục năm nay bây giờ đã cao hàng chục mét, đường kính 50 cm. Nhiều cây trong số đó nếu khai thác đã có thể cho hơn 5m3 gỗ/cây. Ba năm nay, gia đình ông đã có thêm nguồn thu từ việc thu sản phẩm phụ của khu rừng và những loài cây ăn quả trong vườn. Trong đó, nấm lim - sản phẩm dược liệu quý hiếm, mang lại hàng chục triệu đồng mỗi năm.
Ông Niệm kể, hơn 30 năm trước, xã Thanh Hóa (tên cũ) quê ông Niệm được mệnh danh là xã “lâm tặc”, bởi cuộc sống của hầu hết người dân nơi đây đều phụ thuộc vào việc khai thác rừng. Bản thân ông Niệm cũng không ngoại lệ, để nuôi sống gia đình 7 miệng ăn, ngày nào ông cũng phải vác rìu vào rừng. Ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, những khu rừng tưởng chừng như bất tận đã bị ông Niệm và người dân địa phương khai thác kiệt quệ.
![]() |
| Ông Đinh Xuân Niệm. |
Vốn là một người lính trở về từ chiến trường Quảng Trị ác liệt. Những cánh rừng bạt ngàn ở vùng Khe Sanh, Hướng Hóa đã nhiều lần che chở ông sống sót dưới những trận mưa bom, bão đạn của quân địch.
Cảm thấy có lỗi với rừng, từ năm 1997, ông Niệm quyết định từ bỏ công việc của một “lâm tặc”, không vào rừng khai thác gỗ nữa. Cũng thời điểm đó, Nhà nước có chính sách kêu gọi người dân khai hoang, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, ông quyết định nhận gần 5 ha đất, sát cạnh hang Lèn Hà để trồng rừng.
Có một điều khác với mọi người, ông Niệm không trồng các loại cây như keo, bạch đàn mà chú trọng trồng các loại cây gỗ như sưa, lim, vàng tâm, huỷnh, trầm dó. Hỏi ông sao không trồng rừng keo, tràm để nhanh thu hoạch như nhiều người mà trồng cây bản địa vài chục năm mới cho thu hoạch, ông trả lời không một phút đắn đo: “Tui nghĩ rồi, nếu trồng keo, tràm thì chỉ 4 đến 5 năm chặt bán được nhưng như vậy đất lại dễ bị rửa trôi, bạc màu và cây hay gãy đổ khi có mưa bão. Trồng cây bản địa thì lâu thu hoạch nhưng tui muốn bảo tồn một số loài cây gỗ quý của rừng mà mình đã từng khai thác trái phép, giữ lại một mảng thiên nhiên thật hoang sơ như vốn có cho con cháu sau này”.
Ngày đó, người dân chưa ươm được giống cây rừng bản địa nên ông Niệm phải “cơm đùm, gạo bới” vào rừng tìm cây giống. Ngày này qua ngày khác, ông hết đạp rừng tìm cây giống thì bới đất trồng cây, rồi oằn lưng xuống suối gánh từng thùng nước để tưới cây. Trúng thời tiết tốt thì trồng 10 cây có thể sống được 5 cây, gặp trời nắng hạn có khi chẳng sống được cây nào. Thế nhưng, ông chưa bao giờ nản lòng, nhìn cây đâm chồi nảy lộc, ông như được tiếp thêm động lực biến đồi hoang thành rừng cây quý chở che cho bản Hà. Khi những tán cây khép lại thành rừng, cũng là lúc tóc ông bắt đầu điểm bạc. Bên gốc cây lim lớn, là một trong nhóm những cây đầu tiên ông đưa về, nay gần 30 tuổi. Cây cao khoảng 30m, gốc lớn bằng vòng tay ôm của người lớn. Ông Niệm cho biết, vừa rồi có người đến trả mua cây gỗ gần 100 triệu đồng nhưng ông không bán, để cho cây già thêm, giá trị càng cao.
Ở tuổi 76, có trong tay khu rừng trị giá cả chục tỷ đồng, song vợ chồng ông Niệm vẫn yêu rừng đến đam mê. Ông nói, vợ chồng ông sẽ tiếp tục trồng cây và khi không còn sức đi rừng nữa thì trao lại cho con cháu, nhưng người nhận sẽ phải tuân theo quy định về cách khai thác, trồng xen thế nào để rừng phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, cho cộng đồng.