Vụ tranh chấp quyền sở hữu nhà ở, thừa kế về tài sản và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở 128 Lê Lợi, phường 3, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên:

Căn cứ để người cao tuổi đề nghị hủy bản án sơ thẩm

Tạp chí Người cao tuổi nhận đơn của bà Lư Thị Thanh Điểu, 67 tuổi (con cụ Lê Thị Xuân Sang, chết ngày 14/6/2019), người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu nhà ở (QSHNƠ), thừa kế về tài sản và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ)”, giữa bị đơn: Cụ Sang; nguyên đơn: ông Lư Sanh Dũng, ở 128 Lê Lợi, phường 3, TP Tuy Hòa. Bà Điểu đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, TAND Cấp cao tại TP Đà Nẵng xem xét hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho TAND tỉnh Phú Yên xét xử lại theo quy định pháp luật…

Nhận định của Tòa án

Nguyên đơn (ông Lư Sanh Dũng) yêu cầu được quyền sở hữu và thừa kế di sản thừa kế là QSDĐ, nhà ở tại địa chỉ 128 Lê Lợi nói trên (nhà và đất 128 Lê Lợi) theo Di chúc năm 1982 của cụ Lư Thạch và cụ Sang.

Về công sức tôn tạo, bảo quản di sản: Ông Dũng trực tiếp quản lí, tôn tạo di sản nên cần phải tính công sức của ông Dũng. Áp dụng Án lệ số: 05/2016/AL được Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao thông qua ngày 6/4/2016, tính công sức cho ông Dũng với mức 10% giá trị QSDĐ.

Về giao hiện vật: Từ nhỏ ông Dũng đã ở tại địa chỉ 128 Lê Lợi, là chỗ ở duy nhất và là địa điểm đăng kí kinh doanh hành nghề may mui nệm. Các người thừa kế khác của cụ Sang đều đã có chỗ ở ổn định nên cần giao nhà và đất tại 128 Lê Lợi cho ông Dũng được QSDĐ và QSHNƠ. Ông Dũng thanh toán lại cho các người thừa kế khác của cụ Sang.

Về di sản của cụ Sang: Di chúc do cụ Sang lập ngày 6/6/2005 được UBND phường 3 chứng thực theo đúng quy định, có hiệu lực; tôn trọng ý nguyện của cụ Sang giao phần giá trị di sản nhà và đất của cụ Sang lại cho các bà Vân, Ấn, Điểu và Xuân.

Căn cứ để người cao tuổi đề nghị hủy bản án sơ thẩm
Bản án số: 21/2024/DSST ngày 4/5/2024 của TAND tỉnh Phú Yên

Chia di sản thừa kế: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và một phần yêu cầu phản tố của bị đơn; chia thừa kế nhà và đất ở 128 Lê Lợi.

Bản án số: 21/2024/DSST ngày 4/5/2024 của TAND tỉnh Phú Yên, Quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dũng và một phần yêu cầu phản tố của cụ Sang (Bị đơn). Ông Dũng được quyền sở hữu căn nhà cấp 3 và các vật kiến trúc khác gắn liền với diện tích đất 70,8m2, loại đất ở, tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số D4IV-AC, tọa lạc tại số 128 Lê Lợi, phường 3, TP Tuy Hòa; ông Dũng thanh toán lại cho các bà Vân, Ấn, Điểu, Xuân phần giá trị đất 3.297.510.000 đồng và phần giá trị nhà 86.800.800 đồng; tổng cộng là: 3.384.310.800 đồng, mỗi người nhận 846.077.700 đồng; bà Điểu chịu 10.000.000 đồng chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ nhà, đất tại thôn Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An.

Tuy nhiên, trong đơn của bà Lư Thị Thanh Điểu phản án như sau: Về sự tồn tại của Di chúc năm 1982. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng, cụ Sang thừa nhận là có Bản di chúc năm 1982, nên kết luận Bản di chúc năm 1982 là có thật. Và trích dẫn phần tóm tắt, nhận định của Bản án dân sự sơ thẩm số: 31/2004/DSST ngày 13/9/2004 của TAND TP Tuy Hòa; Bản án phúc thẩm số: 66/2004/DSPT ngày 24/12/2004 của TAND tỉnh Phú Yên; Quyết định giám đốc thẩm số 166/2005/DS-GĐT ngày 19/10/2005 của TAND Tối cao.

Tuy nhiên, 2 bản án sơ thẩm, phúc thẩm nêu trên đều đã bị TAND Tối cao hủy toàn bộ (Quyết định giám đốc thẩm số: 166/2005/DS-GĐT ngày 19/10/2005); cũng không có cơ sở để khẳng định rằng các Bản án trước đây đã ghi lại một cách khách quan, đúng với lời khai, ý chí của cụ Sang.

Một, năm 2004, cụ Sang chỉ khởi kiện yêu cầu ông Dũng rời khỏi nhà, không có đương sự nào có yêu cầu công nhận hoặc không công nhận di chúc hoặc yêu cầu chia thừa kế, nhưng Tòa án các cấp đã quyết định việc chia thừa kế - vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự. Nếu Tòa án xem xét đến di chúc hoặc chia di sản thì phải đưa những người thừa kế của cụ Thạch, cụ Sang vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (việc có hay không có di chúc, chia thừa kế như thế nào đều ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kế khác). Trong các vụ án trước đây, mặc dù có quyết định việc chia thừa kế nhưng các cấp Tòa án không đưa những người thừa kế khác vào tham gia tố tụng là không bảo đảm quyền lợi của những người thừa kế của cụ Thạch, cụ Sang.

Hai, để xác định ý chí đích thực của cụ Sang, hay nói cách khác, để đánh giá cụ Sang có thừa nhận sự tồn tại của Di chúc năm 1982 hay không, cần phải sao lục toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ khởi kiện của các Bản án trước đây (năm 2004). Các chứng cứ trước đây như Đơn khởi kiện, bản tự khai do cụ Sang lập, hay thậm chí là biên bản hòa giải của Tòa án (năm 2004) là những chứng cứ không thể chối cãi nhằm xác định ý chí đích thực của cụ Sang, nhưng tại sao Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập để làm rõ. Ngoài ra, cũng cần phải làm rõ trong suốt quá trình tố tụng, cụ Sang có thay đổi lời khai hay không? Lí do của việc thay đổi, từ việc thừa nhận đến không thừa nhận có sự tồn tại của bản di chúc năm 1982 (nếu có)?

Thu thập toàn bộ hồ sơ vụ án trước đây sẽ góp phần làm rõ ý chí đích thực của cụ Sang. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã không thu thập đầy đủ. Kết quả là đến nay vẫn chưa làm rõ được ý chí của cụ Sang (thừa nhận sự tồn tại của Bản di chúc năm 1982 hay không?), ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến trình làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Ba, Quyết định giám đốc thẩm số: 166/2005/DS-GĐT ngày 19/10/2005 của TAND Tối cao, nêu rõ: “Cần hủy cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm để giao hồ sơ vụ án về TAND TP Tuy Hòa xác minh, thu thập thêm chứng cứ để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho các bên đương sự”. Tức, Hội đồng giám đốc thẩm không giới hạn phạm vi được xem xét lại có hay không có sự tồn tại của Bản di chúc năm 1982 của Tòa án cấp sơ thẩm. Nếu thật sự có giới hạn phạm vi xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm thì Quyết định giám đốc thẩm chỉ hủy một phần, chứ không phải hủy toàn bộ như Quyết định giám đốc thẩm đã nêu.

Do đó, việc TAND tỉnh Phú Yên (cấp sơ thẩm) chỉ dựa vào phần tóm tắt, nhận định của các Bản án/Quyết định trước đây (năm 2004, năm 2005) mà không xem xét toàn diện đến các chứng cứ mới và không thu thập các chứng cứ khác để xác định ý chí đích thực của cụ Sang là có dấu hiệu bỏ sót, dẫn đến kết luận trong Bản án ghi nhận bản di chúc năm 1982 là có thật, thiếu cơ sở. Cần nói rõ thêm: Ngay cả khi cụ Sang thừa nhận là có Bản di chúc năm 1982 thì cũng không có cơ sở để cho rằng sự thừa nhận của cụ Sang là đúng sự thật khách quan. Hay nói cách khác, cho dù cụ Sang có thừa nhận sự tồn tại của Bản di chúc năm 1982 thì cũng không đồng nghĩa với việc Bản di chúc năm 1982 là có thật trên thực tế, vì:

Lời khai của đương sự (sự thừa nhận của cụ Sang) chỉ bảo đảm khách quan khi hội tụ đủ 2 yếu tố: Lời khai đó không ảnh hưởng/xâm phạm đến quyền lợi của người khác và phải phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Căn cứ để người cao tuổi đề nghị hủy bản án sơ thẩm
Di sản thừa kế là nhà, đất 128 Lê Lợi, phường 3, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Trong khi, trong vụ án này, lời khai của cụ Sang (khẳng định có sự tồn tại của bản Di chúc năm 1982 (nếu có) gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến những người thừa kế khác (vì có di chúc thì những người thừa kế khác không được hưởng thừa kế). Đặc biệt, sự tồn tại của bản Di chúc năm 1982 (nếu có) không phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác (trong hồ sơ vụ án không có Bản di chúc năm 1982, những người làm chứng, người liên quan đều khẳng định không thấy bản di chúc năm 1982 - được chứng minh cụ thể dưới đây).

Bốn, đặc biệt quan trọng, tất cả các chủ thể có liên quan và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều khẳng định không có sự tồn tại của bản di chúc năm 1982, cụ thể:

4.1 Theo lời khai của ông Dũng: ông Kiều Văn Long là cán bộ trực tiếp đến nhà cụ Thạch, cụ Sang để lấy chữ kí và chứng thực bản Di chúc năm 1982. Tuy nhiên, tại “Giấy xác nhận” ngày 12/1/2006 (có đóng dấu xác nhận của UBND phường 3), chính ông Long xác nhận: “Vào tháng 2/1982, tôi được UBND phường 3 bố trí làm thư kí tổng hợp - thi đua UBND phường và là thư kí của Uỷ ban MTTQ Việt Nam phường 3. Trong thời gian này, đến cuối năm 1987 bản thân tôi không có chức năng làm nhiệm vụ đi xác nhận và kí di chúc cho ai... Vì vậy, tôi xin khẳng định là tôi không kí vào bản di chúc của ông Lư Thạch năm 1982, vì năm 1982, ông Lư Thạch rất khỏe mạnh và đang công tác tại phường 3, với chức vụ là Phó Bí thư, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam phường 3” (BL 407);

4.2. Tại Giấy xác nhận ngày 26/12/2005 (có đóng dấu xác nhận của UBND phường 3), ông Hồ Văn Trọng, nguyên Chủ tịch UBND phường 3 xác nhận: “Tháng 2/1982, tôi tiếp nhận chức vụ Chủ tịch UBND phường 3 nhiệm kì mới, từ thời gian đó trở về sau liên tục giữ chức vụ này, đến tháng 9/1984, giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy phường 3. Trong suốt thời gian đó tôi không hề biết, cũng không kí Bản di chúc của ông Lư Thạch, cũng không cử đồng chí Kiều Văn Long đến nhà ông Thạch để xác nhận di chúc vì không phải chức năng nhiệm vụ của đ/c Long. Đồng chí Long lúc đó là cán bộ Tổng hợp, Thư kí Uỷ ban MTTQ Việt Nam phường 3.” (BL 408).

4.3. Tại Giấy xác nhận ngày 26/12/2005 (có đóng dấu xác nhận của UBND phường 3, ông Trần Chánh, nguyên Phó Chủ tịch UBND phường 3 xác nhận: “Tháng 2/1982, tôi tiếp nhận chức vụ Phó Chủ tịch UBND phường 3 nhiệm kì mới. Trong suốt nhiệm kì này tôi không hề biết, cũng không kí Bản di chúc của ông Lư Thạch, cũng không cử đồng chí Kiều Văn Long đến nhà ông Thạch để xác nhận di chúc vì không phải chức năng nhiệm vụ của đồng chí Long. Đồng chí Long lúc đó là cán bộ Tổng hợp, Thư kí Uỷ ban MTTQ Việt Nam phường 3”. (BL 409).

4.4. Ngày 9/1/2006, UBND phường 3 cũng xác nhận: “... Tại thời điểm năm 1982, ông Trọng là Chủ tịch UBND phường 3 và ông Chánh là Phó Chủ tịch UBND phường 3, ông Long là cán bộ tổng hợp và thư kí Uỷ ban MTTQ Việt Nam phường 3”. Những người có chức năng nhiệm vụ công chứng, chứng thực và người làm chứng là ông Long đều xác nhận không kí, không đến nhà ông Thạch để lấy chữ kí hoặc chứng nhận bản di chúc năm 1982. (BL 396, 397).

4.5. Tại Công văn số: 79/UBND về việc cung cấp tài liệu kí chứng thực di chúc ngày 28/10/2019, UBND phường 3 khẳng định: “Sau khi tiến hành kiểm tra hồ sơ lưu trữ tại địa phương đối với việc kí chứng thực di chúc của ông Lư Thạch và bà Lê Thị Xuân Sang lập năm 1982 và năm 2000, UBND phường 3 không tìm thấy bản di chúc nào kí chứng thực năm 1982 và năm 2000 có nội dung trên” (BL 89).

4.5. Tại Quyết định giải quyết khiếu nại (lần 1) của TAND TP Tuy Hòa và Quyết định về việc giải quyết khiếu nại số: 33/2023/QĐ-CA ngày 28/5/2023 (BL 381), TAND tỉnh Phú Yên xác nhận: “Trong hồ sơ vụ án không có bản di chúc 1982 mà bà Điểu yêu cầu Photocopy”.

4.6. Đặc biệt, tại chứng cứ duy nhất có chữ kí của cụ Sang, do chính cụ Sang lập là “Đơn khẩn cầu”, cụ Sang khẳng định Bản di chúc năm 1982 hoàn toàn không có thật. Cụ thể, sau khi tường thuật lại sự việc (không nhắc đến sự tồn tại của Bản di chúc năm 1982), cụ Sang viết: “Với nội dung quyết định của 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm, nếu xét về căn cứ để giải quyết giao cho Dũng giá trị đất là: 130.326.500 đồng là chưa hợp lí, vì bản di chúc của chồng tôi để lại không có để chứng minh, tôi không biết gì về di chúc này, nội dung của di chúc không có cơ sở gì để khẳng định mà hội đồng xét xử chỉ dựa vào đề nghị của Dũng và lời xác nhận không rõ ràng của ông Kiều Văn Long (cán bộ phường 2, TP Tuy Hòa) để tòa kết luận “đủ cơ sở để xác định di chúc là có thật” là không thuyết phục... (BL 404).

Tất cả các nhân chứng, người có liên quan, chính cụ Sang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều khẳng định không có sự tồn tại của bản di chúc năm 1982. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét toàn diện chứng cứ nêu trên mà kết luận Bản di chúc 1982 là có thật, liệu có khiên cưỡng và thiếu căn cứ pháp luật?

Năm, ngay cả khi có sự tồn tại của Di chúc năm 1982 thì cũng cần phải xác định nội dung, tính hiệu lực của di chúc để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Tòa án các cấp trước đây và Tòa án cấp sở thẩm đã công nhận 1 Bản di chúc không có hình thái vật lí cụ thể. Trong khi đó, pháp luật đặt ra yêu cầu là Di chúc phải lập thành văn bản (trừ di chúc miệng nhưng phải tuân theo thủ tục chặt chẽ), pháp luật cũng buộc phải xác định nội dung di chúc để xem xét đến hiệu lực của di chúc và ý chí của người để lại di chúc. Trong vụ án này, Tòa án các cấp chưa xác định đầy đủ nội dung của Bản di chúc năm 1982 (nếu xác định di chúc là có thật), chưa xác định hiệu lực của di chúc mà vội vàng công nhận hiệu lực của di chúc là thiếu cơ sở.Hồ sơ vụ án thể hiện, ngay cả khi Bản di chúc năm 1982 là có thật thì cũng sẽ bị vô hiệu một phần hoặc toàn bộ, bởi:

5.1 Pháp luật tại thời điểm năm 1982 (thời điểm được cho là lập di chúc) và pháp luật tại thời điểm mở thừa kế (năm 1989) đều không xem đất đai là di sản thừa kế. Cụ thể:

Tại mục II.1 (Phần di sản thừa kế) Thông tư 81/TANDTC ngày 24/7/1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế (có hiệu lực từ ngày 24/7/1981 đến hết ngày 5/7/1996) quy định:

“Theo Điều 19 và Điều 20 của Hiến pháp mới, đất đai thuộc sở hữu toàn dân.

Đất đai (kể cả đất canh tác, đất ở, đất hương hỏa...) không thuộc quyền sở hữu riêng của công dân, nên không thể là di sản thừa kế. Nếu người đang sử dụng đất chết thì việc điều chỉnh quyền sử dụng phần diện tích đó sẽ do pháp luật về đất đai quy định. Cây cối và hoa mầu thuộc quyền sở hữu của người đã chết, vẫn thuộc di sản thừa kế”.

Theo quy định trên, đất đai không phải là di sản thừa kế, chỉ có nhà ở mới là di sản thừa kế. Quy định này hoàn toàn phù hợp với lí luận chính trị xã hội (trước năm 1986), khi đó toàn bộ đất đai được Nhà nước tập trung quản lí để phục vụ cho nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đất đai và quyền sử dụng đất không phải là tài sản của công dân và không được phép đưa vào giao dịch.

Mãi đến ngày 15/4/1992, khi Hiến pháp năm 1992 có hiệu lực thi hành thì chúng ta mới hình thành khái niệm về “quyền sử dụng đất”, lúc này “quyền sử dụng đất” mới được xem là tài sản/di sản.

5.2 Bản di chúc năm 1982 (nếu có) chỉ định đoạt phần nhà (nhà tole + vách ván), hoàn toàn không định đoạt phần đất.

Tại các Bản án trước đây (năm 2004, năm 2005) đều khẳng định: Vợ chồng cụ Thạch, cụ Sang lập di chúc để lại ngôi nhà cho ông Dũng, hoàn toàn không di chúc định đoạt phần đất, cụ thể:

- Bản án sơ thẩm số 31/DS-ST ngày 10+13/9/2004 của TAND thị xã Tuy Hòa:

Tại đoạn đầu trang 4 ghi nhận: “Tại biên bản làm việc ngày 17/7/2004 cụ Sang khai: “Tôi công nhận trước khi chồng tôi mất thì chồng tôi là Lư Thạch có viết bản di chúc là cho căn nhà cho Dũng. Nhưng căn nhà này là nhà tole + vách ván đã trúng đường giải tỏa nên không còn.

Tại đoạn số 3 từ dưới lên ghi nhận: “Theo anh Dũng trình bày: Năm 1982 cụ Thạch, cụ Sang đã lập di chúc cho căn nhà tole vách ván cho ông Dũng và có xác nhận của ông Kiều Văn Long” (BL 7).

Bản án phúc thẩm số: 66/DSPT ngày 24/12/2004 của TAND tỉnh Phú Yên ghi nhận: “Cụ Sang và ông Dũng khai: Nguyên thủy ngôi nhà 128 Lê Lợi, phường 3, thị xã Tuy Hòa là 1 trại tole, vách ván. Năm 1982 vợ chồng cụ Thạch và cụ Sang lập di chúc để lại ngôi nhà 128 Lê Lợi cho ông Dũng” (BL 9).

Quyết định giám đốc thẩm số: 166/2005/DS-GĐT của TAND Tối cao ghi nhận: “Năm 1976, bà có mua một căn nhà tôn vách ván bằng khoản tiền dành dụm của bà. Vào năm 1982, ông Lư Thạch là chồng của bà có lập bản di chúc cho người con trai là Lư Sanh Dũng căn nhà này...”.

Có thể thấy, các Bản án/Quyết định trước đây đều ghi nhận/khẳng định: Vợ chồng cụ Thạch, cụ Sang chỉ di chúc cho ông Dũng phần nhà (tole, vách ván, hiện nay đã không còn), hoàn toàn không định đoạt phần đất.

Mặc dù ghi nhận như vậy, nhưng các cấp Tòa án đều phân chia phần đất của cụ Sang, cụ Thạch là chưa đúng với ý chí, nguyện vọng của các cụ, không đúng quy định của pháp luật.

Trong khi chưa xác định được nội dung, hiệu lực của Di chúc mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định phân chia theo di chúc là thể hiện dấu hiệu khiên cưỡng, thiếu cơ sở. Hơn nữa, di chúc (nếu có) mới chỉ định đoạt phần nhà, không định đoạt phần đất nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cho ông Dũng hưởng phần đất là không đúng ý chí của cụ Thạch, cụ Sang, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của những người thừa kế còn lại.

Căn cứ để người cao tuổi đề nghị hủy bản án sơ thẩm
Giấy xác nhận xây dựng nhà 128 Lê Lợi.

Những “bất cập” trong giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm

Không chia thừa kế cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc:

Mục IV.B [Quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc] Thông tư 81/TANDTC ngày 24/7/1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế - Văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm mở thừa kế năm 1989, quy định:

Người lập di chúc phải dành lại một phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc (nếu có). Những người thừa kế bắt buộc gồm: Vợ góa hoặc chồng góa, con chưa thành niên hoặc tuy đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, bố mẹ già yếu và túng thiếu.

Phần di sản phải dành lại cho mỗi người thừa kế bắt buộc, ít nhất là 2/3 suất của thừa kế theo luật. Nếu di chúc truất quyền thừa kế của người thừa kế bắt buộc hoặc phần dành lại cho mỗi người thừa kế bắt buộc ít hơn 2/3 suất thì phải trích chia cho đủ 2/3.

Điều 20 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 (Văn bản pháp luật được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng) quy định:

Trong trường hợp không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu như di sản được chia theo pháp luật, thì những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng ít nhất là hai phần ba suất đó, trừ trường hợp họ là người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 của Pháp lệnh này:

a) Cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên không đủ khả năng lao động và túng thiếu;

b) Con chưa thành niên.

- Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: 1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Pháp luật tại thời điểm mở thừa kế (năm 1989) và pháp luật hiện hành đều quy định, vợ là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, với kỉ phần là 2/3 của một suất thừa kế chia theo pháp luật.

Nếu Di chúc năm 1982 là có thật thì cụ Sang cũng sẽ được hưởng di sản do cụ Thạch để lại, với 2/3 của kỉ phần thừa kế chia theo pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã không chia cho cụ Sang suất thừa kế của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của cụ Sang.

Căn cứ để người cao tuổi đề nghị hủy bản án sơ thẩm
Giấy xác nhận về học nghề của ông Lư Sanh Dũng.

Về tính công sức đóng góp của ông Lư Sanh Dũng

Tòa án cấp sơ thẩm cho ông Lư Sanh Dũng hưởng công sức đóng góp, tôn tạo bằng 10% giá trị toàn bộ khu đất là thiếu cơ sở khi chưa xem xét toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bởi, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ thừa kế của cụ Sang đã cung cấp cho Tòa án các tài liệu là:

- Giấy xác nhận ngày 24/02/2006 của bà Huỳnh Thị Hòa (người bán vật liệu xây dựng) khẳng định: “Vào năm 1993, cụ Sang, chủ nhà 128 Lê Lợi, Tuy Hòa có mua vật liệu tại cửa hàng Hiệp Hòa để xây dựng ngôi nhà 128 Lê Lợi. Cụ Sang trực tiếp mua hàng của tôi, trả tiền liền, không còn nợ nần gì với cửa hàng của tôi” (BL 411).

- Giấy xác nhận ngày 24/2/2006 của ông Hồ Tánh (thợ hồ, thầu xây dựng): “Năm 1993, tôi có xây dựng mới ngôi nhà 128 Lê Lợi, phường 3, TP Tuy Hòa cho cụ Sang (là chủ nhà). Từ ngày khởi công đến khi hoàn thành, bàn giao nhà, chính cụ Sang là chủ chạy mua nguyên vật liệu và trả công xây dựng, không có nợ nần ai” (BL 412).

- Giấy xác nhận học nghề ngày 13/9/2005 của ông Nguyễn Văn Hướng: “Vào tháng 2/1992, tôi có hành nghề may yên xe honda, xe đạp tại 128 Lê Lợi, phường 3, TP Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên. Đồng thời nhận dạy nghề cho ông Dũng đến tháng 5/1992, do tìm được nơi khác ổn định hơn nên tôi chuyển đi. Lúc đó, ông Dũng bỏ học giữa chừng khi nghề nghiệp chưa ổn định, chưa có gì là cơ bản” (BL 413).

- Giấy xác nhận ngày 15/9/2005 của ông Lê Thanh Trang: “Trước đây tôi có kinh doanh ngành sửa chữa xe Cam, Hàn tiện ở địa chỉ 187 Lê Lợi, F5, TP Tuy Hòa. Tôi có dạy nghề thợ tiện, hàn cho em: Dũng là con của cụ Sang có dẫn Dũng đến học nghề theo yêu cầu của cụ. Nhưng Dũng có học nghề khoảng thời gian 7 tháng hoặc 8 tháng vào khoảng năm 1991. Còn thời gian học nghề chưa hành nghề, còn sống lệ thuộc gia đình” (BL 418).

Các tài liệu nêu trên đều khẳng định, thời điểm năm 1991-1993, ông Dũng không có nghề nghiệp ổn định, không tạo ra được thu nhập, còn sống lệ thuộc vào gia đình. Cụ Sang là người trực tiếp bỏ chi phí xây nhà. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét toàn diện các chứng cứ nêu trên, mà chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận đăng kí hộ kinh doanh (nghề may mui đệm) của ông Dũng để cho ông Dũng hưởng công sức đóng góp bằng 10% giá trị di sản là không hợp lí, không phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tòa án cấp sơ thẩm đã giao cho ông Dũng được nhận thừa kế thửa đất và sở hữu ngôi nhà (thực tế là đã tính công sức đóng góp thì mới công nhận quyền sở hữu nhà). Trong quá trình sinh sống và hiện tại thì ông Dũng vẫn ở trên thửa đất này để làm nghề kinh doanh phát sinh lợi nhuận, được hưởng lợi từ thửa đất và ngôi nhà này, bao gồm cả hưởng lợi trên phần tài sản của cụ Sang (1/2 khu đất). Đến nay, Tòa án lại tiếp tục tính cho ông Dũng 10% công sức đóng góp trên tổng giá trị đất.

Bản án sơ thẩm cũng nêu, lúc về già cụ Sang qua ở với bà Điểu. Bà Điểu là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cụ Sang (người để lại di sản) lúc ốm đau già yếu, trực tiếp thờ cúng cụ Sang nhưng không được Tòa án cấp sơ thẩm tính công sức.

Đặc biệt, có dấu hiệu Tòa án đã thiếu xót khi tính công sức đóng góp cho ông Dũng bằng 10% trên tổng giá trị đất (10% x 7.327.800.000 đồng = 732.780.000 đồng). Bởi, trong toàn bộ khu đất, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định ông Dũng được quyền hưởng thừa kế % đất, nay lại tính công sức đóng góp trên chính phần tài sản của ông Dũng được hưởng đó.

Có dấu hiệu sai sót trong áp dụng pháp luật

Theo Trích lục khai tử số: 331/TLKT-BS ngày 13/12/2018 của UBND phường 3 thì cụ Thạch mất tháng 9/1990 (không ghi ngày mất). Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 (có hiệu lực từ ngày 10/9/1990) để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, theo lời khai của tất cả các đương sự, cụ Thạch mất năm 1989.

Việc xác định chính xác thời điểm cụ Thạch chết có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi pháp luật được lựa chọn làm căn cứ giải quyết vụ án là pháp luật tại thời điểm mở thừa kế (thời điểm cụ Thạch chết).

Giả sử cụ Thạch mất năm 1989 thì việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Pháp lệnh thừa kế năm 1990 (có hiệu lực từ ngày 10/9/1990) là áp dụng không đúng pháp luật. Nếu cụ Thạch mất năm 1989 thì Thông tư 81/TANDTC ngày 24/7/1981 (có hiệu lực từ ngày 24/7/1981 đến hết ngày 5/7/1996) của TAND Tối cao [hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế] được áp dụng để giải quyết tranh chấp phần di sản của cụ Thạch.

Xác định thời điểm mở thừa kế (thời điểm cụ Thạch chết) có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã không xác minh, làm rõ. Đây là những dấu hiệu sai sót có thể dẫn đến lựa chọn nguồn pháp luật giải quyết không đúng.

Nguyện vọng của người cao tuổi

Từ những căn cứ nêu trên, bà Lư Thị Thanh Điểu thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Sang, cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm - TAND Cấp cao tại TP Đà Nẵng xem xét: Hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho TAND tỉnh Phú Yên xét xử lại.

Thực hiện Điều 5 Luật Người cao tuổi năm 2009, Tạp chí Người cao tuổi đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm - TAND Cấp cao tại TP Đà Nẵng giải quyết nguyện vọng của người cao tuổi là bà Lư Thị Thanh Điểu; thông báo kết quả để Tạp chí trả lời người cao tuổi và bạn đọc theo quy định.

Nhóm PVPL

Tin liên quan

Cùng chuyên mục

Vụ án “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” ở TP Cần Thơ: Cần xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm

Vụ án “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” ở TP Cần Thơ: Cần xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm

Ngày 17/9/2025, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” ở TP Cần Thơ. Theo đó, Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên phần hình sự cấp sơ thẩm đã tuyên; về dân sự, tiếp tục thu hồi nợ, xử lí tài sản bảo đảm, tịch thu phần tiền dư sau phát mãi tài sản đảm bảo và buộc các bị cáo chịu phần lãi chưa thu hồi theo tỉ lệ: ông Nhân 50%, ông Hải 25%, ông Liệu 15% và ông Tuấn Anh 10%...
Chiếm đoạt hơn 40 tỷ đồng từ việc trục lợi chính sách nhà ở xã hội

Chiếm đoạt hơn 40 tỷ đồng từ việc trục lợi chính sách nhà ở xã hội

Ngày 18/3, Bộ Công an cho biết Cục An ninh kinh tế vừa ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Điều 174, Bộ luật Hình sự, xảy ra tại một số dự án nhà ở xã hội trên địa bàn TP Hà Nội. Bước đầu, Cục An ninh kinh tế xác định, các đối tượng đã chiếm đoạt hơn 40 tỷ đồng...
Lâm Đồng: Truy bắt khẩn đối tượng tấn công cán bộ Công an tại Mũi Né

Lâm Đồng: Truy bắt khẩn đối tượng tấn công cán bộ Công an tại Mũi Né

Liên quan vụ chống người thi hành công vụ xảy ra đêm 18/3 tại phường Mũi Né, Công an tỉnh Lâm Đồng khẩn trương triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, nhanh chóng truy xét, bắt giữ đối tượng gây án, đồng thời tập trung điều kiện tốt nhất để cứu chữa cán bộ bị thương.
Phường Từ Liêm: Đã có yêu cầu dừng thi công, nhưng công trình vẫn tiếp tục xây dựng?

Phường Từ Liêm: Đã có yêu cầu dừng thi công, nhưng công trình vẫn tiếp tục xây dựng?

Ngày 4/2/2026, Tạp chí Người cao tuổi đăng bài phản ánh việc ông Phạm Đức Chúc (66 tuổi, trú tại xã Thư Trì, tỉnh Hưng Yên) cùng con trai là anh Phạm Ngọc Trịnh có đơn gửi các cơ quan chức năng liên quan đến tranh chấp trong quá trình thi công xây dựng tại công trình tại ngõ 322/76/18/52 đường Mỹ Đình, phường Từ Liêm, TP Hà Nội.
Vụ người cao tuổi tố cáo các sai phạm tại phường Tây Mỗ: Thanh tra Bộ Công an chuyển đơn đến Công an Hà Nội

Vụ người cao tuổi tố cáo các sai phạm tại phường Tây Mỗ: Thanh tra Bộ Công an chuyển đơn đến Công an Hà Nội

Liên quan đến đơn tố cáo của người dân (trong đó có người cao tuổi) về một số sai phạm trong quản lí đất đai, trật tự xây dựng tại phường Đại Mỗ (nay thuộc phường Tây Mỗ, TP Hà Nội), ngày 3/2/2026, Thanh tra Bộ Công an đã có văn bản chuyển đơn đến Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật...

Tin khác

Người mẹ cao tuổi mong tòa phúc thẩm xem xét khách quan vụ án

Người mẹ cao tuổi mong tòa phúc thẩm xem xét khách quan vụ án
Sau phiên tòa sơ thẩm ngày 8/1/2026 tại TAND khu vực 19 (TP Hồ Chí Minh), vụ án “Cố ý gây thương tích” liên quan đến bị cáo Lê Văn Hải tiếp tục nhận được sự quan tâm của dư luận. Bà Trương Thị Thiệu (60 tuổi), mẹ của bị cáo Hải và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đã gửi đơn đến Tạp chí Người cao tuổi bày tỏ một số băn khoăn về quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Bà mong muốn cấp phúc thẩm sẽ xem xét vụ án một cách khách quan, toàn diện theo quy định của pháp luật...

Sổ hộ khẩu bị “bỏ sót” và những tình tiết chưa được làm rõ

Sổ hộ khẩu bị “bỏ sót” và những tình tiết chưa được làm rõ
Một vụ tranh chấp quyền sử dụng đất tại phường Vĩnh Thông, đã có bản án phúc thẩm buộc bà Lê Kim Vân giao trả hơn 14.500m² đất cho bên nhận chuyển nhượng. Tuy nhiên, trong đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm gửi cơ quan có thẩm quyền, bà Vân cho rằng vụ án vẫn còn một số tình tiết cần được xem xét thêm, trong đó có nội dung liên quan đến sổ hộ khẩu gia đình - yếu tố mà bà cho rằng có ý nghĩa trong việc xác định chủ thể quyền sử dụng đất (QSDĐ)...

Vụ án “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động tín dụng” ở TP Cần Thơ: Những “bất cập” pháp lí của bản án

Vụ án “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động tín dụng” ở TP Cần Thơ: Những “bất cập” pháp lí của bản án
Như Tạp chí Người cao tuổi đã thông tin, ngày 17/9/2025, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại TP Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” ở TP Cần Thơ. Tuy nhiên, theo các luật sư bảo vệ quyền lợi cho các bị cáo tại phiên toà, bản án có nhiều bất cập cần được các cơ quan chức năng xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm theo quy định...

Người cao tuổi kiến nghị được xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm

Người cao tuổi kiến nghị được xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm
Bà Phan Thị Biên, 71 tuổi, trú tại phường Phù Khê, tỉnh Bắc Ninh là bị đơn trong vụ “Kiện đòi quyền sử dụng đất (QSDĐ) nông nghiệp, chia thừa kế QSDĐ nông nghiệp” có đơn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm gửi Tòa phúc thẩm TAND Tối cao xem xét...

Cần giải quyết dứt điểm những nội dung khiếu tố của người cao tuổi tại chùa Cảnh Bà

Cần giải quyết dứt điểm những nội dung khiếu tố của người cao tuổi tại chùa Cảnh Bà
Tạp chí Người cao tuổi nhận được đơn thư của nhiều người cao tuổi thôn Vũ Xuyên, xã Vũ Dương, tỉnh Ninh Bình (trước đây là xã Yên Dương, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) phản ánh tình trạng trong nhiều năm qua, tại chùa Cảnh Bà xuất hiện một số hoạt động mà người dân cho rằng đã ảnh hưởng đến không gian văn hóa tâm linh của cộng đồng. Mặc dù người dân đã nhiều lần gửi kiến nghị đến chính quyền địa phương, song theo phản ánh, vụ việc đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.

Nỗi lòng của doanh nhân cao tuổi khi con trai vướng vào vòng lao lí

Nỗi lòng của doanh nhân cao tuổi khi con trai vướng vào vòng lao lí
Ngày 17/9/2025, TAND Tối cao tại TP Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”. Chứng kiến con trai, Nguyễn Huỳnh Đạt Nhân bị kết án, ông Nguyễn Văn Kịch, 70 tuổi, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Thủy sản Cafatex, nguyên Phó Chủ tịch Hiệp hội VASEP đã gửi đơn đến các cơ quan chức năng đề nghị xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm…

Chiếm dụng đất, xây dựng trái phép kéo dài tại phường Tân Hải, TP Hồ Chí Minh

Chiếm dụng đất, xây dựng trái phép kéo dài tại phường Tân Hải, TP Hồ Chí Minh
Từ phản ánh của người dân và các hồ sơ, biên bản làm việc của chính quyền địa phương cho thấy, tại phường Tân Hải, TP Hồ Chí Minh đã xảy ra vụ việc chiếm dụng đất và xây dựng công trình trên đất nông nghiệp. Mặc dù người sử dụng đất đã được cấp GCNQSDĐ, nhưng vụ việc vẫn kéo dài, chưa được xử lý dứt điểm, làm phát sinh nhiều bất cập trong công tác quản lý đất đai ở cơ sở, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, gây bức xúc trong dư luận.

Tranh chấp tại công trình xây dựng, người cao tuổi gửi đơn kiến nghị đề nghị được bảo vệ quyền lợi

Tranh chấp tại công trình xây dựng, người cao tuổi gửi đơn kiến nghị đề nghị được bảo vệ quyền lợi
Tạp chí Người cao tuổi nhận được đơn của ông Phạm Đức Chúc, 66 tuổi, ở xã Thư Trì, tỉnh Hưng Yên phản ánh về việc vợ chồng ông Nguyễn Đình Phong, bà Nguyễn Thị Tâm không thanh toán đủ tiền thi công xây dựng như đã cam kết ở công trình số 1 ngõ 322/76/18/52 đường Mỹ Đình, phường Từ Liêm, TP Hà Nội cho anh Phạm Ngọc Trịnh (con của ông Chúc).

Chưa nhận được phí môi giới sau giao dịch chuyển nhượng đất: Người cao tuổi lên tiếng phản ánh

Chưa nhận được phí môi giới sau giao dịch chuyển nhượng đất: Người cao tuổi lên tiếng phản ánh
Thông tin đến Tạp chí Người cao tuổi, ông Hoàng Việt Anh, 61 tuổi, ở số 275 Nguyễn Trãi, phường Thanh Xuân, TP Hà Nội cho biết, Công ty Cổ phần Tập đoàn Thành Nam (Công ty TNI) và Công ty CP Đầu tư và Xây dựng ACE Thái Bình Dương (Công ty ACE) có ký thỏa thuận cho ông là cá nhân môi giới trong việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại Lô đất A1.1 đường Hoàng Sa, phường Mân Thái, quận Sơn Trà (cũ), TP Đà Nẵng (nay là phường Sơn Trà, TP Đà Nẵng) từ năm 2022. Tuy nhiên, theo ông Việt Anh, đến nay ông vẫn chưa nhận được khoản thanh toán như thỏa thuận.

Vụ kiện “Tranh chấp đòi nhà đất” tại số 156 Kim Hoa: Công an TP Hà Nội tiếp nhận đơn của ông Trần Văn Công

Vụ kiện “Tranh chấp đòi nhà đất” tại số 156 Kim Hoa: Công an TP Hà Nội tiếp nhận đơn của ông Trần Văn Công
Mới đây, ông Trần Văn Công, 67 tuổi, ở phường Phương Liên, quận Đống Đa nay là phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám, TP Hà Nội tiếp tục có đơn gửi Công an TP Hà Nội và các cơ quan chức năng về việc khôi phục, điều tra lại vụ án lừa đảo, chiếm đoạt tài sản là nhà đất số 156 Kim Hoa, phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám, TP Hà Nội...

Dự án Lake View treo nhiều năm: Người cao tuổi đề nghị làm rõ để bảo vệ quyền lợi hợp pháp

Dự án Lake View treo nhiều năm: Người cao tuổi đề nghị làm rõ để bảo vệ quyền lợi hợp pháp
Người cao tuổi là ông Võ Quang Nam (63 tuổi), thông tin tới Tạp chí Người cao tuổi, cho biết gia đình ông mua căn hộ tại Dự án Laka View của Công ty TNHH Bất động sản Ngôi Nhà Xanh từ năm 2017, nhưng đến nay dự án trên vẫn chỉ bãi đất trống, chưa triển khai và có dấu hiệu huy động vốn trái phép,...

Các đương sự kiến nghị xem xét giám đốc thẩm và hoãn thi hành án

Các đương sự kiến nghị xem xét giám đốc thẩm và hoãn thi hành án
Như đã thông tin, ngày 17/9/2025, TAND Tối cao tại TP Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” ở TP Cần Thơ và tuyên Bản án hình sự phúc thẩm số 314/2025/HS-PT. Theo quy định, bản án phải phát hành trong 10 ngày kể từ ngày tuyên án, nhưng đến 19/1/2026 các đương sự mới nhận được bản án bằng văn bản. Không đồng tình với phán quyết của Tòa, bị án Nguyễn Huỳnh Đạt Nhân và các bên liên quan (người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan, ông Nguyễn Văn Kịch, 70 tuổi) kiến nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm và đề nghị tạm hoãn thi hành án (THA) phần hình sự và dân sự…

Dấu hiệu xe quá khổ, quá tải chở đất vào KCN Bắc Tiền Phong: Nỗi lo an toàn của người cao tuổi

Dấu hiệu xe quá khổ, quá tải chở đất vào KCN Bắc Tiền Phong: Nỗi lo an toàn của người cao tuổi
Vừa qua, Tạp chí Ngày mới Online nhận được thông tin của bạn đọc là người cao tuổi ở phường Quảng Yên, Liên Hoà... tỉnh Quảng Ninh phán ánh việc trên địa bàn thường xuyên xuất hiện xe tải trọng lớn chở đất, đá có dấu hiệu quá tải gây ô nhiễm môi trường, tiểm ẩn nguy cơ tai nạn cho người và phương tiện tham gia giao thông...

Cần làm rõ bản chất góp vốn, hiện tượng “đứng tên hộ” và bảo vệ quyền lợi người cao tuổi

Cần làm rõ bản chất góp vốn, hiện tượng “đứng tên hộ” và bảo vệ quyền lợi người cao tuổi
Theo nguyên đơn và luật sư, nội dung Bản án dân sự phúc thẩm số: 144/2025/DS-PT ngày 30/7/2025 của TAND tỉnh Lâm Đồng thể hiện nhiều vấn đề pháp lí cần được làm rõ. Phía nguyên đơn trực tiếp góp vốn, thực hiện nghĩa vụ tài chính trong thời gian dài, nhưng quyền lợi có nguy cơ không được bảo đảm do bản chất giao dịch và hiện tượng “đứng tên hộ” chưa được đánh giá đầy đủ. Vụ việc đặt ra yêu cầu xem xét lại toàn diện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người cao tuổi...

Cần bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người cao tuổi yếu thế

Cần bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người cao tuổi yếu thế
Bà Trần Thị Thanh, năm nay 68 tuổi, do bệnh tật, không biết chữ nên phải sống nương nhờ vào mẹ đẻ là cụ Nguyễn Thị Xu. Khi cụ Xu qua đời, bà Thanh sống nhờ vào vợ chồng ông Trần Văn Sự (em trai), ở xóm Gạch, phường Vĩnh Yên. Bà Thanh mong muốn được bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình và em trai tại mảnh đất 323,2m2 (thửa đất số 12, tờ bản đồ số 39, xóm Gạch). Đây là tài sản do cụ Xu di chúc để lại,...
Xem thêm
Chiếm đoạt hơn 40 tỷ đồng từ việc trục lợi chính sách nhà ở xã hội

Chiếm đoạt hơn 40 tỷ đồng từ việc trục lợi chính sách nhà ở xã hội

Ngày 18/3, Bộ Công an cho biết Cục An ninh kinh tế vừa ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Điều 174, Bộ luật Hình sự, xảy ra tại một số dự án nhà ở xã hội trên địa bàn TP Hà Nội. Bước đầu, Cục An ninh kinh tế xác định, các đối tượng đã chiếm đoạt hơn 40 tỷ đồng...
Lâm Đồng: Truy bắt khẩn đối tượng tấn công cán bộ Công an tại Mũi Né

Lâm Đồng: Truy bắt khẩn đối tượng tấn công cán bộ Công an tại Mũi Né

Liên quan vụ chống người thi hành công vụ xảy ra đêm 18/3 tại phường Mũi Né, Công an tỉnh Lâm Đồng khẩn trương triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, nhanh chóng truy xét, bắt giữ đối tượng gây án
Phường Từ Liêm: Đã có yêu cầu dừng thi công, nhưng công trình vẫn tiếp tục xây dựng?

Phường Từ Liêm: Đã có yêu cầu dừng thi công, nhưng công trình vẫn tiếp tục xây dựng?

Ngày 4/2/2026, Tạp chí Người cao tuổi đăng bài phản ánh việc ông Phạm Đức Chúc (66 tuổi, trú tại xã Thư Trì, tỉnh Hưng Yên) cùng con trai là anh Phạm Ngọc Trịnh có đơn gửi các cơ quan chức năng liên quan đến tranh chấp trong quá trình thi công xây dựng tại công trình tại ngõ 322/76/18/52 đường Mỹ Đình, phường Từ Liêm, TP Hà Nội.
Người cao tuổi kiến nghị được xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm

Người cao tuổi kiến nghị được xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm

Bà Phan Thị Biên, 71 tuổi, trú tại phường Phù Khê, tỉnh Bắc Ninh là bị đơn trong vụ “Kiện đòi quyền sử dụng đất (QSDĐ) nông nghiệp, chia thừa kế QSDĐ nông nghiệp” có đơn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm gửi Tòa phúc thẩm TAND Tối cao xem xét...
Cần giải quyết dứt điểm những nội dung khiếu tố của người cao tuổi tại chùa Cảnh Bà

Cần giải quyết dứt điểm những nội dung khiếu tố của người cao tuổi tại chùa Cảnh Bà

Tại chùa Cảnh Bà, nhiều người cao tuổi thôn Vũ Xuyên, xã Vũ Dương, tỉnh Ninh Bình ý kiến về việc nhiều năm qua không bàn giao được cho Ban quản lý.
Chưa nhận được phí môi giới sau giao dịch chuyển nhượng đất: Người cao tuổi lên tiếng phản ánh

Chưa nhận được phí môi giới sau giao dịch chuyển nhượng đất: Người cao tuổi lên tiếng phản ánh

Thông tin đến Tạp chí Người cao tuổi, ông Hoàng Việt Anh, 61 tuổi, ở số 275 Nguyễn Trãi, phường Thanh Xuân, TP Hà Nội cho biết, Công ty Cổ phần Tập đoàn Thành Nam (Công ty TNI) và Công ty CP Đầu tư và Xây dựng ACE Thái Bình Dương (Công ty ACE) có ký thỏa thuận cho ông là cá nhân môi giới trong việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại Lô đất A1.1 đường Hoàng Sa, phường Mân Thái, quận Sơn Trà (cũ), TP Đà Nẵng (nay là phường Sơn Trà, TP Đà Nẵng) từ năm 2022. Tuy nhiên, theo ông Việt Anh, đến nay ông vẫn chưa nhận được khoản thanh toán như thỏa thuận.
Năm 2025 bứt phá với những thành quả nổi bật, lan tỏa giá trị nhân văn của pháp luật

Năm 2025 bứt phá với những thành quả nổi bật, lan tỏa giá trị nhân văn của pháp luật

Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa vẫn kiên định với mục tiêu cao nhất: đem pháp luật đến gần hơn với mọi người dân.
Luôn giữ vững niềm tin và là “điểm tựa” pháp lý của đối tượng yếu thế

Luôn giữ vững niềm tin và là “điểm tựa” pháp lý của đối tượng yếu thế

Tại Thanh Hóa, những trợ giúp viên pháp lý (TGVPL) thuộc Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh ngày càng khẳng định vai trò rõ nét trong hoạt động nghề nghiệp, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cho nhiều đối tượng yếu thế trong các vụ án dân sự, hình sự...
Người cao tuổi ký hợp đồng tặng cho khi không minh mẫn – Tòa án có thể tuyên vô hiệu theo pháp luật

Người cao tuổi ký hợp đồng tặng cho khi không minh mẫn – Tòa án có thể tuyên vô hiệu theo pháp luật

Người cao tuổi ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất khi không minh mẫn – có thể bị tuyên vô hiệu và phát sinh hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật.
Phiên bản di động