Sự việc kéo dài hơn 20 năm cần được giải quyết dứt điểm
Pháp luật 06/11/2025 14:37
Ngày 22/5/2025, Viện KSND tỉnh Hưng Yên có Cáo trạng số: 67/CT-VKS-P3 về việc truy tố Trần Thị Thủy (SN: 1989) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, Khoản 4, Điều 174 Bộ luật Hình sự (BLHS). Tổng số tiền mà Thủy chiếm đoạt của 6 bị hại trong gần 10 năm là hơn 24,6 tỉ đồng thông qua hợp đồng chuyển nhượng hoặc hợp đồng thế chấp các khoản vay.
Cùng với Thuỷ, Nguyễn Thọ Lập (SN: 1987), cựu cán bộ Công an huyện Tiên Lữ bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngoài Thủy và Lập, ông Hoàng Văn Hải và vợ là bà Nguyễn Thị Tiệp cũng bị truy tố về tội “Che giấu tội phạm” theo điểm c, Khoản 1, Điều 389 BLHS.
Theo đó, để có tiền trả cho các khoản vay và khoản nợ từ trước cũng như để sử dụng chi tiêu cá nhân, trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2024, Thủy có hành vi đưa ra thông tin gian dối về việc bản thân sở hữu hoặc đồng sở hữu một số thửa đất ở khu vực huyện Tiên Lữ, huyện Văn Giang, TP Hưng Yên, thị xã Mỹ Hào... và một số thủ đoạn khác để chiếm đoạt tổng số tiền hơn 24,6 tỉ đồng.
![]() |
| Quyết định số: 03/2025/HSST-QĐ ngày 14/8/2025 của TAND tỉnh Hưng Yên về việc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung. |
Trong vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Thủy có vai trò chính, lừa đảo chiếm đoạt tổng số 24,6 tỉ đồng. Còn Lập có vai trò giúp sức khi Thủy lừa đảo chiếm đoạt của vợ chồng chị Nguyễn Thị Huệ, anh Phạm Văn Nam, ở xã Nghĩa Chính, huyện Kim Động (cũ) nay là xã Lương Bằng, tỉnh Hưng Yên số tiền 1 tỉ đồng trong việc đặt cọc mua thửa đất 1161 và 3,85 tỉ đồng trong việc đặt cọc mua thửa đất 150, 151. Vợ chồng ông Hải, bà Tiệp sau khi đã biết Thủy lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị Huệ nhưng đã cố ý cùng Thủy gian dối, nhằm che giấu hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của Thủy.
Sau khi Viện KSND tỉnh Hưng Yên ban hành Cáo trạng số: 67/CT-VKS-P3, ông Hải, bà Tiệp có đơn kêu oan gửi đến các cơ quan chức năng khẳng định không biết, không tham gia, không giúp sức và không hưởng lợi gì từ hành vi của Thủy và Lập. Cáo trạng đánh giá không đúng hành vi của ông Hải, bà Tiệp, không phù hợp với quy định của pháp luật; đã truy cứu trách nhiệm hình sự, dù ông Hải, bà Tiệp chỉ thực hiện các giao dịch dân sự thông thường mà Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định.
Ông Hải cho biết: “Trong quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan tố tụng đã mời tôi và bà Tiệp lên làm việc. Tại đây, chúng tôi đã phối hợp tích cực với Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) và Viện KSND tỉnh. Tôi đã cung cấp nhiều văn bản, tài liệu, flie ghi âm cho Cơ quan CSĐT. Việc thực hiện giao dịch, mua bán, chuyển nhượng các bất động sản giữa tôi và bà Thuỷ, ông Lập là bình thường, được pháp luật cho phép. Tuy nhiên, Viện KSND tỉnh vẫn khởi tố tôi và bà Tiệp về tội “Che giấu tội phạm”. Bản thân tôi và bà Tiệp không thực hiện hành vi che giấu tội phạm. Chúng tôi không biết bà Thuỷ và ông Lập thực hiện các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, cho nên tôi kiến nghị TAND và Viện KSND tỉnh Hưng Yên điều tra làm rõ, xét xử công bằng, minh bạch, đúng pháp luật, tránh oan sai cho chúng tôi”.
Ngày 14/8/2025, TAND tỉnh Hưng Yên đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Tại phiên toà, sau khi nghe quan điểm của luật sư, của Viện KSND tỉnh, ý kiến của các bị can, cũng như để giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không xử oan người vô tội, Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định trả hồ sơ yêu cầu Viện KSND tỉnh Hưng Yên điều tra bổ sung làm rõ hành vi của các bị cáo Hải và Tiệp về dấu hiệu đồng phạm với vai trò giúp sức cho bị cáo Thủy phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a Khoản 4, Điều 174 BLHS.
Liên quan đến vụ án, Luật sư Phạm Đình Thế, Công ty Luật TNHH NP Legal, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho biết: Bản chất hành vi của ông Hải, bà Tiệp không có dấu hiệu cấu thành tội “Che giấu tội phạm”. Ông Hải, bà Tiệp thực hiện giao dịch dân sự thông thường, hợp pháp và không có các yếu tố cấu thành bắt buộc của tội danh “Che giấu tội phạm” trong hành vi thực hiện. Theo Điều 389 BLHS, tội “Che giấu tội phạm” được hiểu như sau: “Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, giấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lí người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Che giấu tội phạm” trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định”.
![]() |
| Luật sư Phạm Đình Thế, Công ty Luật TNHH NP Legal, Đoàn Luật sư TP Hà Nội. |
Theo hồ sơ, cùng toàn bộ tài liệu có trong vụ án, có thể thấy:
Thứ nhất: Không thỏa mãn mặt chủ quan của tội phạm: Ông Hải, bà Tiệp đều không biết hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bị cáo Thủy. Đây là điểm bắt buộc để cấu thành tội “Che giấu tội phạm”. Trong khi đó, ông Hải, bà Tiệp chỉ thực hiện giao dịch mua bán đất công khai, đúng pháp luật, không có dấu hiệu thông đồng hay hứa hẹn gì với người phạm tội. Ông, bà chỉ nhận tiền từ bị cáo Lập trên cơ sở đã thỏa thuận từ trước.
Ông Hải, bà Tiệp không biết bị cáo Thủy và Lập có hành vi lừa đảo hay nguồn tiền dùng để mua đất là tiền do phạm tội mà có. Trong trường hợp ông, bà có biết Huệ cho các bị cáo vay tiền để trả, đó vẫn là giao dịch dân sự thông thường. Ông bà không có lí do, căn cứ nào để nghi ngờ về nguồn tiền đó vì mọi giao dịch đều được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Trong tất cả các bản ghi lời khai, các bị cáo Thủy, Huệ và Nam đều không xác định rằng bà Tiệp biết về việc mua bán đất giữa Huệ và Lập. Ngoài lời khai ra, cũng không có căn cứ nào cho thấy ông Hải, bà Tiệp biết hoặc phải biết về thỏa thuận riêng của Huệ. Do đó, ông Hải, bà Tiệp không thể có lỗi cố ý, càng không thể có hành vi “cố ý che giấu” hành vi phạm tội mà ông, bà không biết.
Thứ hai: Ông Hải, bà Tiệp không có hành vi giúp che giấu tội phạm. Trong hồ sơ vụ án, ông, bà không có bất kì hành động nào giúp các bị cáo khác trốn tránh pháp luật, không can thiệp quá trình điều tra, không tiêu hủy tang vật,… Việc nhận tiền từ bị cáo Thủy và Lập không phải là hành vi “che giấu tài sản phạm tội”, vì ông, bà không biết và không có nghĩa vụ phải biết nguồn gốc của số tiền đã nhận do bán đất. Từ đó, có thể thấy, ông Hải, bà Tiệp không có hành vi cụ thể nào để quy kết là đã can thiệp, cản trở quá trình điều tra hay xử lí tội phạm như Bản kết luận điều tra nhận định.
Thứ ba, ông, bà không xâm phạm khách thể của tội “Che giấu tội phạm” là trật tự hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Từ khi được triệu tập để làm rõ nội dung vụ án, ông Hải, bà Tiệp hoàn toàn hợp tác với Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, không có hành vi làm sai lệch, cản trở hoặc phá hoại hoạt động tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Giao dịch dân sự mua bán đất đai của ông bà không gây khó khăn hay thiệt hại gì đến quá trình điều tra. Bên cạnh đó, ông Hải, bà Tiệp không biết việc bị cáo Thủy trao đổi với Huệ thế nào và càng không thể biết tình trạng nợ nần trong quan hệ giữa Thủy và Huệ. Bị cáo Thủy (Lập) vẫn nói với ông, bà rằng, Thủy đi vay ngân hàng để giải quyết khoản nợ còn lại của Thửa đất số 1160. Do đó, ông Hải, bà Tiệp không thể biết Thủy đang thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như cơ quan tố tụng nhận định.
Tóm lại, trong toàn bộ hồ sơ vụ án, không có một chứng cứ nào chứng minh ông Hải, bà Tiệp được biết và phải biết về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị cáo khác. Đồng thời, không có lời khai, tài liệu nào xác định được ông Hải, bà Tiệp che giấu hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Thủy. Hành vi của ông Hải, bà Tiệp không cấu thành tội “Che giấu tội phạm”.
Tới đây, TAND tỉnh Hưng Yên sẽ đưa vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tải sản” và “Che giấu tội phạm” ra xét xử, ông Hải và bà Tiệp mong rằng TAND tỉnh Hưng Yên sẽ xét xử khách quan, minh bạch, rõ ràng, đúng các quy định pháp luật, bảo vệ lẽ phải, để bảo vệ pháp luật cũng như bảo vệ họ là người cao tuổi.