Người cao tuổi là lực lượng chính trị quan trọng, nguồn lực để phát triển đất nước
Trong lịch sử phát triển của dân tộc ta, NCT có nhiều đóng góp to lớn cả trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Hội nghị Diên Hồng là biểu tượng của ý chí sắt đá, tinh thần quyết tâm, đồng lòng bảo vệ đất nước của các bậc phụ lão.
Truyền thống vô cùng quý báu của NCT Việt Nam tiếp tục được Đảng ta và Bác Hồ phát huy. Năm 1941, ngay sau khi về nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết “Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão”. Trong thư Bác viết: “Đất nước hưng thịnh do phụ lão giúp sức. Đất nước bị mất phụ lão cứu. Đất nước suy sụp phụ lão phù trì. Nước nhà hưng, suy, tồn, vong phụ lão đều gánh trách nhiệm rất nặng nề… Đối với gia đình, đối với Tổ quốc, phụ lão có trọng trách là bậc tôn trưởng. Đối với làng xóm, đối với bà con, phụ lão có sự tín nhiệm lớn lao”.
Bác Hồ coi người cao tuổi là vốn quý của dân tộc, là lực lượng có uy tín và ảnh hưởng lớn trong gia đình, trong xã hội. Bác từng nói “Tuổi cao chí khí càng cao". Đókhông chỉ là lời động viên, mà còn thể hiện một quan điểm rất sâu sắc đối với người cao tuổi: tuổi tác có thể làm thay đổi sức lực, nhưng không làm giảm trách nhiệm với đất nước; thời gian có thể làm thay đổi vị trí công tác, nhưng không làm mất đi giá trị của trí tuệ, kinh nghiệm, nhân cách và khát vọng cống hiến.
![]() |
| Phụ nữ cao tuổi Câu lạc bộ Dao Thanh y thôn Éo, xã Phúc Ninh, huyện Yên Sơn (cũ), tỉnh Tuyên Quang truyền nghề dệt thổ cẩm đồng bào Dao cho thế hệ trẻ. |
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nhìn thấy rõ tiềm năng to lớn của NCT. Người cho rằng, tuổi càng cao thì chí khí càng cao, lòng yêu nước càng cao và kinh nghiệm càng nhiều.
Trong Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão năm 1941, Bác viết: “ NCT là của quý vô giá của dân tộc, của nước nhà”; “Một lời nói của phụ lão có ảnh hưởng đến hưng bang… Đối với gia đình, đối với Tổ quốc, phụ lão đã có trọng trách là bậc tôn trưởng, đối với làng xóm, đối với bà con, phụ lão có sự tín nhiệm lớn lao. Phụ lão hô, Nhân dân hưởng ứng; phụ lão làm, Nhân dân làm theo. Hô điều nên hô, làm việc nên làm”.
Trong lần về thăm quê lần thứ hai, Bác Hồ đã nói chuyện với cán bộ lão thành tỉnh Nghệ An ngày 9/12/1961: “Các đồng chí già là rất quý, là tấm gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ. Đồng chí già phải giúp đồng chí trẻ tiến bộ”.
Người đã nâng ý nghĩa Hội nghị Diên Hồng thành “Truyền thống Diên Hồng”. Trong bài “Tuổi tác càng cao, lòng yêu nước càng lớn” đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 1/10/1960, Bác viết: “Truyền thống “Điện Diên Hồng” là truyền thống yêu nước vẻ vang chung của dân tộc ta và riêng của các cụ phụ lão ta. Mỗi khi có việc quan hệ lớn đến nước nhà nòi giống, thì các cụ không quản tuổi cao sức yếu, liền hăng hái đứng ra gánh vác phần mình và đôn đốc con em làm tròn nhiệm vụ”.
Bác Hồ xác định vai trò của NCT không chỉ là lực lượng cách mạng trực tiếp mà còn có vai trò đầu tàu, trách nhiệm cao cả trong xã hội.
Năm 1941, với tư cách là đại biểu Quốc tế Cộng sản, Bác Hồ triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941 tại Khuổi Nậm, Pắc Bó, Cao Bằng. Theo đề nghị của Bác, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) để đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc. Một trong những lực lượng đầu tiên Bác nghĩ tới là phụ lão, trong vai trò đầu tàu, dẫn dắt con cháu trong sự nghiệp cứu nước, xây dựng đất nước hưng thịnh. Tháng 6/1941, Người trịnh trọng viết một bức thư bằng chữ Hán có tiêu đề: “Nguyễn Ái Quốc kí thư chư thị ái chư phụ lão” với lời lẽ thống thiết: “Trách nhiệm của các vị phụ lão chúng ta đối với nhiệm vụ đất nước thật là trọng đại....”.
Phụ lão là bậc mang trong mình và thấm đượm hào khí, tráng khí của lịch sử như câu thơ của Trần Nhân Tông: Người lính già đầu bạc/ Kể mãi chuyện Nguyên Phong hay như những câu thơ của Bác Hồ: Tuổi cao chí khí càng cao/ Chống Mỹ - cứu nước già nào kém ai; Tuổi già nhưng chí không già/ Góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh...
Trong lớp NCT hiện nay, có rất nhiều hiền tài, rất nhiều cán bộ, đảng viên kinh qua các cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại. Học theo cách nói của Thân Nhân Trung, ta cũng có thể khẳng định: “NCT là chính khí sơn hà, ý chí quốc gia”. Bác Hồ từng kêu gọi sự học tập, cầu tiến của “các đồng chí già” và coi đó “chẳng những làm kiểu mẫu, siêng năng cho con cháu mà còn tỏ rõ ý chí hùng mạnh của dân tộc Việt Nam” (Nói chuyện với cán bộ lão thành Nghệ An, 9/12/1961).
Chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế bạc
Già hóa dân số đang trở thành một trong những thách thức toàn cầu đang nổi lên, đồng thời cũng là động lực phát triển quan trọng của thế kỷ XXI. Trong bối cảnh đó, kinh tế bạc (silver economy) nổi lên như một lĩnh vực kinh tế mới, khai thác tiềm năng tiêu dùng và khả năng tham gia xã hội của nhóm dân số cao tuổi, đồng thời giảm thiểu áp lực lên ngân sách công và hệ thống phúc lợi.
![]() |
| Hội thảo khoa học “Kinh tế bạc ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới” |
Có thể nhận thức: “Kinh tế bạc” là thuật ngữ mới, gắn với xu thế già hóa dân số trên thế giới, hàm ý là một loại hình phát triển kinh tế dựa vào cơ chế, chính sách của Nhà nước thích ứng với già hóa dân số, dựa vào nguồn lực xã hội hóa với mục đích kết nối doanh nghiệp, nhà hảo tâm, cộng đồng xã hội chung tay bảo vệ, chăm sóc, phát huy vai trò NCT; NCT vừa là đối tượng hướng đến của “Kinh tế bạc”, đồng thời vừa là chủ thể làm nên “Kinh tế bạc”, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam, hướng đến mục tiêu đạt 2 con số trong kỷ nguyên mới.
Ngày 21/02/2025, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 383-QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược quốc gia về NCT đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045”. Lần đầu tiên thuật ngữ “Kinh tế bạc” được đưa vào văn bản của Chính phủ, Hội Người cao tuổi Việt Nam được giao nghiệm vụ hằng năm “Chủ trì tổ chức các diễn đàn kinh tế bạc để thúc đẩy việc xây dựng các mô hình kinh tế bạc phù hợp ở Việt Nam” trong bối cảnh già hóa dân số.
Ngày 15/11/2025, tại Thủ đô Hà Nội, Hội Người cao tuổi Việt Nam phối hợp với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Hội đồng Lý luận Trung ương, tổ chức Hội thảo khoa học “Kinh tế bạc ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới”; theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến và phát trực tiếp trên các nền tảng số. Sau Hội thảo, các cơ quan phối hợp đã khẩn trương xây dựng Báo cáo chắt lọc trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ, các cấp có thẩm quyền xem xét, ban hành chủ trương, chính sách phát triển “kinh tế bạc”, thích ứng với bối cảnh chuyển từ thời kỳ “dân số vàng” sang thời kỳ “dân số già”. Kiến nghị trong Báo cáo đã được tiếp thu và đưa vào chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Như vậy, từ tiền đề đặt ra tại Hội thảo khoa học “Già hóa dân số ở Việt Nam - thực trạng và thích ứng chính sách” tại Ninh Bình, cho tới Hội thảo khoa học “Kinh tế bạc ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới”, ngày càng chứng minh vấn đề phát triển “kinh tế bạc” ở Việt Nam là tất yếu khách quan. “Kinh tế bạc” là một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc gia, là xu hướng tất yếu, là sự cần thiết, là nhiệm vụ chính trị quan trọng của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội, trong đó NCT là chủ thể, khách thể, là trung tâm, là động lực phát triển.
Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở với Việt Nam
Nhật Bản, là quốc gia đi đầu về thích ứng với già hóa dân số, nước này đã xây dựng hệ thống chính sách an sinh xã hội, chăm sóc bền vững cho người già trong một xã hội siêu già, đồng thời cũng có hệ thống chính sách phát triển “kinh tế bạc”, khuyến khích, mở rộng “Thị trường bạc”. Nhờ đó mà có vô số sản phẩm dành cho NCT ra đời được gọi là “Sản phẩm bạc”. Nhật Bản cũng đang thúc đẩy phát triển nền “kinh tế bạc” (silver economy) và hướng tới xây dựng “xã hội 5.0”.
Trung Quốc, đến nay cơ bản đã hoàn thiện đồng bộ chính sách vĩ mô; trong đó có 4 chính sách quan trọng để khuyến khích phát triển “Kinh tế bạc”: (1) Sản phẩm phù hợp được sản xuất, cung ứng cho NCT; (2) Hạ tầng cơ sở được ưu đãi đối với kinh doanh, sản xuất đáp ứng nhu cầu NCT; (3) Nghĩa vụ đối với quốc gia, NCT; (4) Công nghệ hiện đại cần được ứng dụng. Năm 2023, đóng góp của kinh tế bạc vào tăng trưởng quốc gia khoảng 6%, phấn đấu mức đóng góp tăng trưởng khoảng 10% trước năm 2030.
| Đề xuất, Kiến nghị: - Trung ương xem xét, ban hành Nghị quyết phát triển “kinh tế bạc” tại Việt Nam nhằm nâng cao phúc lợi, chất lượng cuộc sống người cao tuổi và phát huy nguồn lực từ người cao tuổi đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội. - Chính phủ xem xét, ban hành Chiến lược phát triển “hệ sinh thái kinh tế bạc” đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045 đóng góp vào tăng trưởng 2 con số. |
Hàn Quốc, chú trọng tới xây dựng hệ thống chính sách phát triển “Kinh tế bạc”, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn. Chính phủ Hàn Quốc đã thúc đẩy cải thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, kéo dài sự đóng góp của con người cho xã hội, tận dụng cơ hội tốt cho NCT tham gia vào đời sống kinh tế của đất nước, giảm áp lực thiếu hụt nguồn nhân lực. Chính phủ Hàn Quốc đưa ra những chính sách nhằm thu hút sự tham gia liên thế hệ của NCT, phụ nữ và thanh niên vào hoạt động kinh tế. Hàn Quốc đã và đang triển khai các giải pháp có hiệu quả bền vững về việc làm, tăng thu nhập cho NCT để giải quyết các vấn đề liên quan đến y tế, phúc lợi và chăm sóc sức khoẻ.
Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định NCT là bộ phận quan trọng của xã hội, là kho tàng tri thức và kinh nghiệm quý báu cần được tôn trọng và phát huy. Tại buổi gặp đoàn đại biểu NCT tiêu biểu toàn quốc nhân dịp truyền thống 85 năm Ngày truyền thống NCT (6/6/2026), đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Những giá trị làm nên sức mạnh của một dân tộc không chỉ nằm ở tiềm lực kinh tế, quy mô dân số hay trình độ khoa học, công nghệ, mà còn nằm ở chiều sâu văn hóa, ở nền nếp gia đình, gia tộc, làng xóm, ở sự kế thừa giữa các thế hệ và ở cách xã hội trân trọng, chăm sóc những người đi trước. Đối với dân tộc Việt Nam, NCT luôn giữ một vị trí đặc biệt trong hệ giá trị đó”.
Để phát triển hệ sinh thái kinh tế bạc:
Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và chuyển đổi hành vi của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, khích lệ tinh thần lạc quan, tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với phát triển “kinh tế bạc” dựa vào nguồn lực NCT là chủ thể, huy động nguồn lực từ cộng đồng xã hội và hợp tác quốc tế.
Hai là, thống nhất nhận thức và hành động trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV. Kinh tế bạc ở Việt Nam có tính ưu việt của chế độ XHCN, có tính nhân văn lấy con người làm trung tâm, chủ thể, lấy phát triển làm thước đo, lấy văn hoá làm nền tảng, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực.
Ba là, Nhà nước cần kiến tạo thể chế để phát triển kinh tế bạc, cơ chế chính sách nhất quán quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế bao trùm cần có “kinh tế bạc” nằm trong cơ cấu kinh tế quốc dân, thích ứng với già hóa dân số; “Kinh tế bạc” góp phần tăng trưởng hai con số trong kỷ nguyên mới.



