Với những kết quả trong sản xuất, kinh doanh và các sáng kiến được hình thành từ thực tiễn chăn nuôi, ông Nguyễn Văn Toàn được đề nghị xét tặng danh hiệu “Nhà khoa học của Nhà nông lần thứ VII năm 2026".
![]() |
| Ông Nguyễn Văn Toàn |
Từ vùng đất hoang đến trang trại chăn nuôi tập trung
Năm 19 tuổi, ông Nguyễn Văn Toàn vay mượn tiền của người thân để mua một quả đồi còn hoang hóa, đất đai cằn cỗi ở quê nhà. Khi ấy, khu đất chủ yếu là cỏ dại, cây cọ và bụi tre. Gần hai năm sau đó, ông khai hoang, chặt cây bán củi, cải tạo đất để trồng ngô, khoai, sắn và chăn nuôi gà, vịt, lợn.
Không có nhiều vốn, ông Toàn tìm cách tận dụng nhu cầu thực tế của người dân trong vùng. Nhận thấy các hộ chăn nuôi có nhu cầu về con giống và phối giống lợn, ông mạnh dạn đầu tư hai con lợn đực giống có năng suất cao để làm dịch vụ phối giống. Từ công việc ban đầu này, ông vừa tích lũy vốn, vừa có thêm kinh nghiệm về con giống, kỹ thuật chăm sóc và phòng bệnh.
![]() |
| Trang trại lợn đực giống của ông Nguyễn Văn Toàn, ảnh chụp năm 2006. |
Từ hai con lợn đực giống, ông từng bước mở rộng thành trại lợn đực giống, sau đó phát triển sang nuôi lợn nái giống và lợn thương phẩm. Năm 2006, trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường, ông chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang xây dựng trang trại tập trung, hướng tới sản xuất hàng hóa.
Để nâng cao hiệu quả, ông dành nhiều thời gian tham quan các mô hình chăn nuôi trong và ngoài tỉnh, tìm hiểu sách báo, tham gia các lớp tập huấn và học hỏi từ cán bộ kỹ thuật, doanh nghiệp cung ứng con giống, thức ăn chăn nuôi. Qua thực tế, ông nhận thấy muốn phát triển bền vững thì không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền thống mà phải kiểm soát tốt quy trình, dịch bệnh, chi phí và chất lượng sản phẩm.
Ứng dụng công nghệ cao, chú trọng an toàn sinh học
Trang trại của ông Toàn được đầu tư theo hướng an toàn sinh học, ứng dụng công nghệ cao. Nhiều khâu trong quá trình chăn nuôi được tự động hóa, từ cấp điện, cấp nước, thông gió, làm mát đến xử lý chất thải.
Các khu chuồng được bố trí phù hợp với từng nhóm vật nuôi. Trang trại có khu vực cách ly riêng đối với lợn mắc bệnh hoặc có nguy cơ mắc bệnh, hạn chế nguy cơ lây lan trong đàn. Công tác vệ sinh, khử trùng, kiểm soát người và phương tiện ra vào được thực hiện chặt chẽ.
Theo ông Toàn, trong chăn nuôi lợn, an toàn sinh học là yếu tố quan trọng để hạn chế rủi ro dịch bệnh. Vì vậy, ông chú trọng lựa chọn con giống, theo dõi quá trình chăm sóc, kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, độ thông thoáng và vệ sinh chuồng trại.
![]() |
| Khu vực trại lợn nái được ông Toàn đầu tư hiện đại |
Theo thông tin phóng viên ghi nhận từ ông Nguyễn Văn Toàn và Hội Nông dân tỉnh Phú Thọ, trang trại có tổng vốn đầu tư hơn 17 tỷ đồng. Mô hình hiện duy trì hơn 300 lợn nái sinh sản, hằng năm cung cấp khoảng 6.000-8.000 con giống cho thị trường. Khu nuôi 12 lợn đực giống nhập ngoại sản xuất khoảng 8.000 liều tinh mỗi năm. Khu lợn thương phẩm đạt sản lượng gần 500 tấn/năm, khu nuôi lợn giống chất lượng cao cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh từ 3.000-5.000 con.
Năm 2025, doanh thu của gia đình ông đạt khoảng 30 tỷ đồng, lợi nhuận khoảng 8 tỷ đồng. Đến hết quý III/2026, doanh thu đã vượt 35 tỷ đồng, lợi nhuận hơn 9 tỷ đồng. Trang trại tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 17-20 lao động, với mức thu nhập từ 10-12 triệu đồng/người/tháng, đồng thời tạo thêm việc làm thời vụ cho lao động địa phương.
Phát triển chăn nuôi từ lợi thế quê hương
Ông Toàn lựa chọn phát triển chăn nuôi ngay tại quê nhà, dựa trên điều kiện đất đai, lao động và nhu cầu thị trường. Theo ông, mỗi vùng quê đều có những lợi thế riêng, vấn đề là nhận diện và khai thác phù hợp.
Với quỹ đất đồi và không gian phù hợp, Phú Thọ có điều kiện phát triển các trang trại chăn nuôi tập trung. Từ mô hình của mình, ông Toàn cung ứng con giống, lợn thương phẩm, tinh lợn giống và một số sản phẩm, dịch vụ phục vụ chăn nuôi cho người dân trong vùng.
Theo ông Toàn, dù giá cả, chi phí đầu vào và dịch bệnh có thể biến động, nhu cầu về thực phẩm và con giống vẫn tồn tại. Vì vậy, ông lựa chọn lĩnh vực phù hợp với điều kiện sản xuất, kinh nghiệm của gia đình và nhu cầu thực tế.
Từ thực tế sản xuất, ông cho rằng phát triển kinh tế nông nghiệp không nhất thiết phải bắt đầu với diện tích đất lớn. Hiệu quả phụ thuộc vào thiết kế chuồng trại, quy trình kỹ thuật, chất lượng con giống, khả năng kiểm soát dịch bệnh và tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
![]() |
| Những sáng kiến của ông Toàn gắn với công việc chăn nuôi hằng ngày |
Tri thức được hình thành từ thực tiễn
Những sáng kiến của ông Toàn gắn với công việc chăn nuôi hằng ngày. Từ lai tạo con giống, xây dựng khu cách ly, xử lý chất thải, kiểm soát nhiệt độ đến chăm sóc từng nhóm vật nuôi, ông liên tục thử nghiệm, điều chỉnh và hoàn thiện các giải pháp trong quá trình sản xuất.
Năm 2012, ông chủ động học nghề theo chương trình sư phạm dạy nghề trình độ sơ cấp tại Trường Cao đẳng Nghề Cơ điện Phú Thọ. Ông cũng tham gia các lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi cho hội viên nông dân.
Cách truyền đạt của ông gần gũi, gắn với những tình huống cụ thể trong chăn nuôi. Người dân có thể học hỏi kinh nghiệm nhận biết dấu hiệu bất thường của vật nuôi, vệ sinh chuồng trại, sử dụng thuốc thú y, chăm sóc và quản lý đàn.
Việc ông Nguyễn Văn Toàn được vinh danh “Nhà khoa học của Nhà nông lần thứ VII năm 2026" là sự ghi nhận đối với những đóng góp từ thực tiễn sản xuất. Từ kinh nghiệm của mình, ông đã áp dụng, hoàn thiện và chia sẻ những kiến thức kỹ thuật trong chăn nuôi, góp phần giúp các hộ nông dân nâng cao hiệu quả sản xuất.
![]() |
| Danh sách ông Nguyễn Văn Toàn được vinh danh “Nhà khoa học của Nhà nông lần thứ VII năm 2026" |
Làm kinh tế gắn với trách nhiệm cộng đồng
Không chỉ phát triển kinh tế gia đình, trang trại của ông Toàn còn tạo việc làm cho lao động địa phương, góp phần hình thành đội ngũ lao động có kỹ năng trong lĩnh vực chăn nuôi. Ông cũng hỗ trợ, tư vấn kỹ thuật cho các hộ có nhu cầu phát triển gia trại, trang trại.
Trên cương vị Chủ nhiệm Câu lạc bộ “Nông dân triệu phú” tỉnh Phú Thọ, ông tiếp tục kết nối hội viên, chia sẻ kinh nghiệm và thúc đẩy tinh thần cùng phát triển.
Hằng năm, gia đình ông dành gần 200 triệu đồng cho các hoạt động nhân đạo, hỗ trợ học sinh nghèo, gia đình chính sách, hộ nghèo và các chương trình an sinh xã hội trong và ngoài địa phương.
Từ một khu đất từng bị bỏ hoang, ông Nguyễn Văn Toàn từng bước xây dựng mô hình chăn nuôi tập trung, ứng dụng kỹ thuật, tạo việc làm và cung cấp sản phẩm cho thị trường. Quá trình đó cũng cho thấy những kinh nghiệm được hình thành từ thực tiễn sản xuất có thể được tổng kết, chia sẻ và ứng dụng trong cộng đồng nông dân.
Từ vùng đất từng bị xem là khó canh tác, ông Nguyễn Văn Toàn đã tạo dựng một mô hình chăn nuôi hiện đại, cho thấy hiệu quả không chỉ đến từ quy mô đất đai mà còn từ cách lựa chọn hướng đi, ứng dụng kỹ thuật và tổ chức sản xuất phù hợp. Câu chuyện của ông cho thấy, khi biết khai thác đúng lợi thế, nông nghiệp hoàn toàn có thể tạo ra giá trị kinh tế ngay tại địa phương, mở thêm cơ hội để người dân làm giàu trên chính quê hương mình.





