Danh mục
THEO DÕI TRÊN: Facebook Youtube Tiktok
83 tuổi đời, cha chưa một lần kể với chúng tôi rằng mình đã hy sinh bao nhiêu, chịu đựng những gì, có những đêm dài cô độc ra sao cho gia đình này và sự trưởng thành của con cái.
+
aa
-

Cha chỉ lặng lẽ sống phần đời của mình như cách ông đã sống từ thuở còn là một thanh niên trai trẻ giữa đại ngàn Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Để rồi hôm nay, khi những đứa con đã trưởng thành, mỗi người một công việc, một mái nhà, tôi mới chợt hiểu: phía sau mỗi bước chân của chúng tôi là một đời cha lặng thầm đứng đó.

Năm 1964, giữa khói lửa chiến tranh chống Mỹ cứu nước gian khổ mà hào hùng của dân tộc, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, cha tôi - ông Trần Tám (sinh năm 1943), mẹ tôi - bà Nguyễn Thị Bé (sinh năm 1947) là những người thanh niên nam thanh nữ tú từ các miền quê Nghệ Tĩnh tình nguyện lên núi rừng hoang vu xanh thẳm, trở thành những thế hệ công nhân đầu tiên của Lâm trường Vũ Quang. Giữa đại ngàn trùng điệp núi rừng, nơi bom đạn chiến tranh không khuất phục được ý chí con người, một mối duyên lành đã nảy nở và gắn kết hai tâm hồn trẻ. Ngày ấy, mẹ là công nhân Đội 10 trồng rừng Mạn Chạn, gieo mầm sống cho những cánh rừng hồi sinh; cha là cán bộ thủ kho gỗ. Bằng sự trung thực và trách nhiệm, cha đã gắn bó hơn 20 năm giữ kho, trong đó có 13 năm làm thủ kho bãi gỗ Đức Bồng - chặng cuối cùng trước khi gỗ được kết thành bè xuôi về xưởng xẻ gỗ 26/3 Linh Cảm để phục vụ cho tiền tuyến.

Cha tôi!

Năm 1975 - 1985 là thời kỳ phát triển hoàng kim của Lâm trường Vũ Quang. Ngày đêm, công nhân khai thác gỗ ở các đội Mạn Đài, khe Coong, Khe Thang Đày, khe Lim… làm việc hối hả. Tiếng máy kéo gỗ TDT-55, TDT-40 gầm rú trên những ngọn núi, những chuyến xe ZiL-157, ZiL-131, ZiL-130 chở gỗ vào ra tấp nập. Thời ấy, nền kinh tế đang chế độ bao cấp, đời sống cán bộ công nhân rất thiếu thốn, chất đốt khan hiếm. Bằng tấm lòng thương người, ông Tám thủ kho đã cho bà con bóc vỏ, bửa gè gỗ mang về làm chất đốt nấu ăn.

Ở Đội 10 trồng rừng Mạn Chạn, mẹ tôi là người phụ nữ xởi lởi, bao dung. Mẹ luôn sẵn lòng giúp đỡ những gia đình khó khăn, thanh niên mới thành lập gia đình như gia đình dì Long Thi, dì Hạnh Đồng, dì Thanh Trung... Nhà của cha mẹ hồi đó luôn là điểm dừng chân của những người dân huyện Hưng Nguyên, Nghi Xuân… ngược ngàn đi rừng bẻ lá nón, chặt nứa, lấy song mây. Nhiều người trong số họ như chú Niêm, chú Thể, chú Trường, anh Ngọc... đã trở thành thân thiết như người nhà. Dù cuộc sống bao cấp phải sống thắt lưng buộc bụng, cha mẹ vẫn tần tảo tăng gia nuôi được hàng chục lứa lợn nái, lợn thịt, có con nặng 100kg, cùng đàn trâu bò 13 con. Không chỉ lo cho gia đình, cha mẹ còn giúp đỡ người thân, anh em họ hàng hai bên nội ngoại lên rừng chặt nứa, mua gỗ làm bè xuôi sông về quê dựng nhà.

Bốn chị em chúng tôi lần lượt ra đời trong tình yêu thương của cha mẹ: chị Trần Thị Liên, chị Trần Thị Hoan, tôi - Trần Quốc Tuấn và em gái Trần Thị Long. Những năm 1986 - 1992, cuộc sống khó khăn bủa vây, con em công nhân lâm trường Vũ Quang cùng trang lứa với chúng tôi phần nhiều phải nghỉ học khi mới hết cấp 2. Nhưng với quyết tâm và tình thương con, cha mẹ tôi đã vượt qua mọi gian khổ, lần lượt đưa bốn chị em về quê đi học.

Năm 1988, mẹ nghỉ hưu. Đến năm 1989, cha cũng phải nghỉ hưu sớm do lâm trường Vũ Quang gặp khó khăn. Ngày 23/12/1989 (âm lịch) - Ngày Táo quân chầu trời. Một trận cảm hàn cùng sự cố tiêm thuốc bị phản ứng đã cướp mất mẹ tôi ở tuổi 43. Ngày mẹ đi xa, chỉ có chị gái đầu ở bên cạnh. Cha đang ở quê dự giỗ bà ngoại, còn mấy chị em chúng tôi đang đi học phổ thông ở quê. Sự ra đi đột ngột của mẹ khiến cả Đội 10 trồng rừng Mạn Chạn bàng hoàng, thương tiếc. Đám tang mẹ, người đưa tiễn đông đúc, ai cũng rơi nước mắt thương cho người nằm xuống còn trẻ tuổi và thương xót cho người chồng trẻ sớm bị mất vợ, đàn con dại vắng tay mẹ lo toan.

Thảm cảnh “nửa đường gãy gánh nợ duyên” đè nặng, nén chặt nỗi đau, cha tôi một mình nhận lấy gánh nặng kép: vừa làm cha, vừa học cách làm mẹ. Những việc không tên từ giặt giũ, nấu nướng, chăm sóc con cái khi ốm đau cho đến cuộc sống mưu sinh hằng ngày đều dồn lên đôi vai gầy của cha. Để có tiền nuôi các con ăn học, cha dỡ căn nhà ở lâm trường, bán hết đàn trâu bò rồi đưa các con về quê xã Đức Long, huyện Đức Thọ (cũ) sinh sống, nương nhờ vào sự giúp đỡ tinh thần của anh em dòng họ.

Năm mẹ mất, cha mới 47 tuổi. Khi cha bước vào độ tuổi 50, 60, nhiều đồng nghiệp ở lâm trường, cho đến các bác, các chú và cậu Tiến em ruột của mẹ thương cảnh cha cô đơn đều khuyên cha nên “đi thêm bước nữa” để tuổi già có người gánh vác, sẻ chia. Cha chỉ bảo: “Để cho các con ăn học xong, đi làm ổn định công việc rồi tính”. Hoặc có lúc cha lại trăn trở: “Lấy họ về mà không sinh con thì không có sợi dây buộc lại bền chặt nên trong cuộc sống khó tránh va chạm, dễ chia tay; mà chia tay thì có tội với người ta”.

Gác lại hạnh phúc riêng, cha kiên cường bước qua những đêm dài quạnh hiu như những câu ca dao đong đầy nghĩa tình:

“Thương con dại, nhớ vợ hiền/ Đêm nằm gối chiếc, lụy phiền tuôn rơi”; “Vì con cha gác duyên tình/ Một mình một bóng, đinh ninh một lòng”.

Không phụ công ơn cha, bốn chị em chúng tôi đều lớn lên trong chăm ngoan, học tốt. Lần lượt từng người thi đỗ và học xong các trường đại học, cao đẳng. Đến nay, cả bốn người con của cha đều có nghề nghiệp ổn định. Người ở Quân đội, người làm nhà báo, kho bạc, kinh doanh, tất cả đều có nhà cửa khang trang, phương tiện đi lại hiện đại. Con rể, con dâu của cha đều là những người vượt khó, hiếu thảo. Cha đã có 15 cháu, chắt, nội ngoại ngoan hiền, học giỏi ở các cấp học phổ thông và các trường Đại học Y, Kiến trúc, Công nghệ thông tin...

Ông Đinh Hữu Sơ, nguyên Đội trưởng Đội 10 trồng rừng Mạn Chạn, Lâm trường Vũ Quang từng tâm sự: “Bác Tám là người chồng thủy chung, trọn nghĩa tình với người vợ quá cố; người cha mẫu mực, hy sinh vì tương lai các con. Hình ảnh Bác Tám vượt khó, cảnh gà trống nuôi con khôn lớn, trưởng thành, con cháu sum vầy ai cũng kính trọng”.

Gần 40 năm mẹ rời xa cõi tạm, cha tôi vẫn sống một mình trong căn nhà ở làng quê xóm Hạ Long, xã Đức Thọ. Ở tuổi 83, tóc đã bạc, bước chân đã chậm nhưng cha vẫn tằn tiện từ những đồng lương hưu, tự chăm lo từ bữa ăn, thuốc thang cho đến giấc ngủ mà chưa từng đòi hỏi con cái điều gì. Mỗi ngày trôi qua, căn nhà nhỏ ở quê luôn vang lên tiếng chuông điện thoại của các con gọi về: “Cha ăn cơm chưa? Cha đã uống thuốc đúng giờ chưa? Cha ngủ dậy có mệt không?”... Những lời hỏi thăm giản dị ấy, cùng những chuyến về quê tranh thủ của con, cháu vào ngày nghỉ cuối tuần, lễ, tết… là món quà tinh thần vô giá, là liều thuốc bổ nuôi dưỡng tuổi già.

Bà con xóm Hạ Long ai cũng khâm phục, kính nể cha tôi về sự nuôi con trưởng thành, sống đạo hiếu. Hơn 1 năm nay, sức khỏe cha ít nhiều đã kém vì tuổi cao, anh chị em chúng tôi: con đẻ, con rể, con dâu luôn chung tay kịp thời đưa cha đi bệnh viện, lo từng đơn thuốc, bữa ăn. Trong ánh mắt cha, chúng tôi hiểu cha không cần mâm cao cỗ đầy mà chỉ cần tình cảm và sự gần gũi của con cháu.

Cha còn có một tình yêu khác, âm thầm nhưng bền bỉ, tình yêu với cội nguồn. Nhà cha ở cạnh nhà thờ họ, cha xem đó là trách nhiệm với tổ tiên, dòng họ, với những người đã khuất và cả những người đang sống. Ngày Rằm, mùng Một hằng tháng hay mỗi dịp Tết đến Xuân về, dù gối mỏi, chân run, cha vẫn đều đặn quét dọn, mở cửa nhà thờ họ; tự nguyện kéo điện thắp sáng, bắt nước sạch từ nhà mình sang nhà thờ họ phục vụ việc thờ cúng, lau chùi nhà cửa, không tính toán thiệt hơn. Cha chính là người giữ lửa, kết nối dòng chảy tâm linh về cội nguồn tổ tiên, nuôi dưỡng mạch sống dòng họ và các thế hệ con cháu....

Điều đáng quý, gần bốn thập kỷ qua, cha luôn giữ được những chữ “tình”: Tình với người vợ đã khuất; tình yêu thương với con cái; tình với cội nguồn, dòng họ; tình nghĩa với bà con làng xóm. Những cống hiến thầm lặng ấy giúp cha trở thành hình mẫu “Tuổi cao - Gương sáng”, được Mặt trận Tổ quốc, Hội Người cao tuổi… địa phương biểu dương, truyền lửa cho các hội viên của Hội.

Chúng con, những đứa con được lớn lên từ giọt mồ hôi và nước mắt của cha, nguyện cầu cho cha ngày đêm luôn khoẻ mạnh, bình an, trường thọ. Để căn nhà thân quen của cha mãi là hơi ấm, là ký ức của tuổi thơ, là bóng dáng của mẹ... là nơi hội tụ gắn kết con cháu. Và hình ảnh thân thương của cha luôn là điểm tựa thiêng liêng nhất cho chúng con tìm về…

Kí của quốc tuấn
Tags: truyện ngắn

Tin liên quan

Tin tức bạn quan tâm

Gàu sòng trong ký ức

Dưới bóng cờ Độc Lập

Cuối tháng Tám, con đường vào làng rực lên bởi những lá cờ Tổ quốc đỏ thắm nối nhau dọc hai bên đường. Có lá mới tinh, nếp vải còn cứng; có lá đã bạc màu được giặt sạch, phơi phóng từ mấy hôm trước.
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9