Oan này chỉ biết kêu trời quá xa
Như đã phản ánh, trong khi Bản án giám đốc thẩm số 755/2011/DS-GĐT của Tòa án Nhân dân (TAND) Tối cao có hiệu lực từ ngày 27/9/2011, nội dung huỷ cả 2 bản án dân sự: sơ thẩm của TAND huyện Giồng Trôm và phúc thẩm của TAND tỉnh Bến Tre, trả hồ sơ về xét xử lại từ đầu. Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện Giồng Trôm đã kí quyết định đình chỉ thi hành án. Vậy mà, CHV Châu Quang Tiếp vẫn cố tình kí quyết định cưỡng chế giao tài sản của con nợ là bà Đoàn Thị Thảo cho chủ nợ. Với 7.677,5m2 đất vườn và đất ruộng, cộng với chuồng nuôi heo, gà, vịt đều bị đem ra bán đấu giá rẻ như bèo, trong khi tổng số tài sản này là của chung 4 người trong một gia đình, đã được UBND huyện Giồng Trôm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho “hộ gia đình”, chứ không phải tài sản riêng của bà Thảo.
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 74 Luật THADS năm 2008, lẽ ra khi bán khối tài sản chung này, CHV hoặc Chi cục THADS huyện Giồng Trôm phải yêu cầu, hướng dẫn các thành viên trong gia đình khởi kiện ra Toà, để được xác định phần tài sản được sở hữu riêng của từng thành viên. Trong trường hợp các thành viên trong gia đình không biết khởi kiện, CHV khởi kiện, hoặc yêu cầu người được thi hành án khởi kiện. Luật quy định như vậy, nhưng ông Tiếp phớt lờ, ngang nhiên bán hết toàn bộ tài sản chung của một gia đình, số tiền bán được chi vào những khoản nào, cho ai, 8 năm nay gia đình bà Thảo không được biết?
Chấp hành viên lộng hành, chính quyền địa phương sai, Toà vẫn bảo vệ!?
Trong thời gian TAND Tối cao có bản án giám đốc thẩm, huỷ cả 2 bản án của 2 cấp Toà án ở Bến Tre, gia đình bà Thảo thấy vậy giữ lại diện tích đất bị CHV Châu Quang Tiếp lộng hành bán trái pháp luật. Thấy ông Cơ, bà Thảo bám giữ đất, cán bộ phụ trách địa chính, xây dựng của xã Châu Hoà lập biên bản gửi về huyện trước đó gần 2 năm. Tuy không thể lấy biên bản này làm căn cứ pháp lí, vì lập không đúng thẩm quyền và đã quá thời hạn, nhưng ngày 22/10/2012, Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre vẫn cố tình kí 2 Quyết định số 2058 và số 2059/QĐ-UBND, xử phạt vi phạm hành chính 2 vợ chồng bà Thảo, ông Cơ, mỗi người 30 triệu đồng. Gần 2 năm sau, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện mới tống đạt quyết định này cho các đương sự. Xét thấy không còn thời hiệu thi hành, bà Thảo gửi đơn khiếu nại, Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm liền kí Tờ trình số 3769/TTr-UBND, gửi Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, đề nghị ban hành quyết định thu hồi và huỷ bỏ 2 quyết định ban hành trước đó gần 2 năm, để giao quyền cho UBND huyện Giồng Trôm tiến hành xử phạt tiếp theo đúng thẩm quyền.
Ngày 17/12/2014, Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre ban hành các Quyết định số 2531 và số 2532/QĐ-UBND, thu hồi 2 quyết định: số 2058 và số 2059. Ngày 24/12/2014, Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm ban hành 2 Quyết định số 7522 và số 7523/QĐ-UBND, buộc vợ chồng ông Cơ, bà Thảo phải trả đất cho ông Nguyễn Ngọc Ẩn (Trưởng ấp, chồng bà Vân, chủ nợ) trong phạm vi 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Bà Thảo, ông Cơ gửi đơn khiếu nại. Đến ngày 2/2/2015, Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm kí các Quyết định số 362 và 363/QĐ-UBND, thu hồi và huỷ bỏ 2 quyết định: số 7522 và 7523. Như vậy, tính đến thời điểm 2/2/2015, cả Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre và Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm đã ban hành 8 quyết định (chưa kể hàng loạt văn bản, thông báo và quyết định giải quyết khiếu nại).
Đến ngày 11/2/2015, Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm kí tiếp 2 Quyết định số 444 và 445/QĐ-UBND, buộc ông Cơ, bà Thảo phải khắc phục hậu quả, nhưng lại áp dụng Luật Xử lí vi phạm hành chính và Nghị định số 102/NĐ-CP của Chính phủ, là hành vi cố tình áp dụng sai quy định của pháp luật. Nếu như, trong trường hợp vợ chồng ông Cơ, bà Thảo có sai phạm tại thời điểm đó, thì các quy định của pháp luật được áp dụng xử phạt sẽ là Pháp lệnh Xử lí vi phạm hành chính và Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ. Tại Khoản 1, Điều 36 Nghị định số 102 (điều khoản chuyển tiếp) quy định: “Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai xảy ra trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực, mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết, thì áp dụng Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm để xử lí”. Với quy định chuyển tiếp này, việc áp dụng quy định của pháp luật để xử lí là Nghị định số 105, chứ không thể áp dụng Nghị định số 102. Đối chiếu với quy định này, thấy rõ Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm đã tìm cách lách luật. Bởi lẽ, Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm khẳng định, do hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, nên áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, nhưng lại căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính lập ngày 5/2/2015. Các quyết định số: 444 và 445 được ban hành sau khi lập Biên bản vi phạm hành chính 6 ngày, thì không thể nói là hết thời hiệu. Thực chất, việc dựa vào Biên bản lập 5/2/2015, để áp dụng Nghị định số 102. Còn nếu áp dụng Nghị định số 105, thì tại Điều 9 không có biện pháp khắc phục hậu quả “giao trả đất” như nội dung 2 quyết định này nêu ra.
Vì các sai phạm của cả 2 cấp chính quyền, việc bà Thảo khởi kiện hành chính, yêu cầu Toà án tuyên huỷ các quyết định có nội dung trái pháp luật của Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm và Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, là hoàn toàn có cơ sở. Ông Cao Văn Trọng, Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre kí Văn bản số 274/UBND-NC trả lời đương sự, vẫn căn cứ vào “Thi hành Bản án dân sự phúc thẩm số 261/2008/DS-PT ngày 8/4/2008 của TAND tỉnh Bến Tre...”, trong khi bản án này đã bị huỷ từ năm 2011. Hai Quyết định số 444 và số 445/QĐ-UBND ngày 11/2/2015 của Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm ban hành hoàn toàn sai luật. Bởi lẽ, người lập Biên bản vi phạm hành chính ngày 5/2/2015 là một nhân viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, là không đủ thẩm quyền. Vậy mà, Chủ tịch UBND huyện khẳng định, việc lập biên bản vi phạm hành chính là phù hợp với Nghị định số 102 của Chính phủ và Luật Xử lí vi phạm hành chính. Hai quyết định của Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm trích dẫn Khoản 2, Điều 10 Nghị định số 102, để áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, là cố tình áp dụng sai căn cứ pháp luật. Vì Khoản 2, Điều 10 Nghị định số 102 quy định mức phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai, chứ không quy định về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Biện pháp khắc phục hậu quả mà Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm muốn áp dụng phải là: Điểm b, Khoản 5, Điều 10 Nghị định số 102. Trớ trêu thay, không biết Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm dựa vào quy định nào, mà ấn định thời hạn thực hiện là 25 ngày?
Vậy nhưng, khi vợ chồng bà Thảo, ông Cơ khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ bỏ 4 quyết định nêu trên của Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre và Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm, thì Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2017/HC-ST ngày 16/5/2017 của TAND tỉnh Bến Tre, tuyên bác đơn khởi kiện của bà Thảo, ông Cơ. Án sơ thẩm bị kháng cáo, tại Bản án hành chính phúc thẩm số 195/2018/HC-PT ngày 14/6/2018 của TAND Cấp cao tại TP Hồ Chí Minh tuyên “Y án”. Cả 2 cấp toà xét xử án hành chính như vậy là thiếu tính khách quan. Vì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án, mà cả 2 cấp chính quyền nhảy vào làm thay, dẫn tới sai phạm kéo dài quá rõ ràng, từ huyện đến tỉnh đã thấy sai và tự ý thu hồi, huỷ bỏ các quyết định của họ đã kí.
Từ những nỗi bức xúc nêu trên của người dân, đề nghị TAND Tối cao cần căn cứ vào quy định của pháp luật, để có kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng huỷ bỏ 2 bản án nêu trên của TAND tỉnh Bến Tre và TAND Cấp cao tại TP Hồ Chí Minh, nhằm xét xử lại từ đầu theo đúng quy định của pháp luật
Nhóm PVĐT
Tin tức bạn quan tâm
Bao giờ vụ việc mới được giải quyết dứt điểm?
Triệt xóa đường dây núp bóng phòng khám "vẽ bệnh" để lừa dối khách hàng
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh chỉ đạo kiểm tra, xử lý sai phạm
Hóa đơn chuyển khoản giả: NCT cảnh giác chiêu lừa đánh vào sự chủ quan
Nổ mìn khai thác đá gây ảnh hưởng đến gia đình người cao tuổi
NCT cần cảnh giác với chiêu lừa “chuẩn hóa dữ liệu đất đai”
