Nội dung tranh chấp
Phần đất của gia đình bà Tâm quản lí trước đây nằm trong bằng khoán 363, do ông Nguyễn Văn Công (ông nội bà Tâm) đứng tên. Theo tờ lược giải có trong bằng khoán, năm 1936, ông Nguyễn Văn Công bán cho ông Đặng Văn Vàng khoảng 10a (khoảng 1 công) từ thửa đất số 453 và lập nên bất động sản trước bạ từ sổ đất dưới số 364 (bằng khoán 364). Phần còn lại của thửa đất 453, lập nên bất động sản trước bạ dưới số 363. Khi thực hiện việc mua bán giữa ông Công và ông Vàng cam kết sẽ để một lối đi tự do từ con lộ đến thửa ruộng không ai có quyền rào cản. Theo đăng kí trong bằng khoán 363 lập năm 1938, gồm các thửa: 95, 72 và 424 (thửa 72, 424 tách từ thửa 453 trước đây) trong đó thửa 424 là đường đi, vị trí như sau: Bắc giáp với thửa 95, Đông giáp bằng khoán 365, Tây giáp với thửa 72, Nam giáp với đường đi nằm trong bằng khoán 364. Bà Tâm tranh chấp phần đường đi nằm trong bằng khoán 364 với hộ ông Huỳnh Long Châu, hộ ông Hồ Văn Sang và hộ bà Nguyễn Thị Cheo, vì bà Tâm cho rằng phần đường đi này là của gia đình bà.

Biên bản về việc đo đạc xác định ranh giới đất tranh chấp
lập ngày 10/12/1987, bị bỏ “quên” 31 năm?
Bỏ quên biên bản đã lập 31 năm!Theo Báo cáo số 1929/BC-PTNMT ngày 14/12/2015 của Phòng TN&MT huyện Ba Tri về “kết quả thẩm tra, xác minh vụ tranh chấp đất đường đi của bà Nguyễn Thị Xuân Tâm, thường trú ấp An Lợi, xã An Bình Tây”, thì: “Hiện ông Châu đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hộ ông Hồ Văn Sang và hộ bà Nguyễn Thị Cheo sử dụng thửa đất sổ 702 (thuộc bằng khoán 362 do ông Hồ Văn Long đứng tên, ông Long là ông nội của ông Sang). Do đó, phần đường đi bà Tâm tranh chấp với 3 hộ dân trên có vị trí như sau: Phía Đông giáp đất ở của hộ bà Cheo và đất ở của hộ ông Sang thuộc thửa đất số 702, tờ bản đồ số 13; phía Tây giáp đất ở của hộ ông Châu thuộc thửa đất số 701, tờ bản đồ số 13; phía Nam giáp lộ An Bình Tây; phía Bắc giáp đất bà Tâm thuộc thửa đất số 382, tờ bản đồ số 13, xã An Bình Tây.
Quá trình hòa giải ở địa phương, UBND xã An Bình Tây đã tổ chức họp dân tại ấp An Lợi, xã An Bình Tây. Kết quả họp dân cho biết, đường đi mà bà Tâm đang tranh chấp, trước đây là có thực chiều ngang đường đi này khoảng 1,8m đến 2m. Hiện nay đường đi này không còn nữa, do gia đình bà Tâm không còn đi lại trên đường đi này, mà đi trên đường đi khác nên hộ bà Cheo và hộ ông Sang để các vật dụng gia đình bít đường đi cũ. Hộ ông Sang và hộ bà Cheo đồng ý giải tỏa tài sản của mình giao lại hiện trạng đất đường đi cho hộ bà Tâm diện tích 67,3 m2 (chiều ngang giáp lộ l,4m, chiều ngang giáp đất bà Tâm thửa đất số 382, tờ bản đồ số 13 là 1,8m, chiều dài giáp phần đất còn lại thửa đất số 702, tờ bản đồ số 13 của hộ bà Cheo và hộ ông Sang là 42,16m và chiều dài giáp hàng rào thuộc thửa đất số 701, tờ bản đồ số 13 của hộ ông Châu là 42,49m). Riêng hộ ông Châu không đồng ý giao diện tích 8,4m2 đã xây hàng rào (chiều ngang giáp lộ 0,4m) cho hộ bà Tâm làm đường đi, vì ông Châu cho rằng hàng rào của ông không phạm đến diện tích đất đường đi”.
Tuy nhiên, bà Tâm không đồng ý với kết quả họp dân ấp An Lợi xác định đường đi của gia đình bà có chiều ngang khoảng 1,8m đến 2m và bà cũng không đồng ý nhận phần diện tích mà hộ bà Cheo và ông Sang thỏa thuận giao lại. Bà Tâm cho rằng, các thửa đất của ông Sang, bà Cheo và ông Châu bề ngang chỉ có 16m.
Trao đổi với phóng viên, bà Tâm cho biết: “Cách giải quyết của chính quyền hiện nay là không đúng thực tế, không đúng tinh thần nội dung “Biên bản về việc đo đạc xác định ranh giới đất tranh chấp” lập ngày 10/12/1987, đã được Chủ tịch UBND xã An Bình Tây kí đóng dấu có nội dung ghi rõ: “Qua đo được trên bản đồ (của Pháp) đạt được như sau (có sơ đồ kèm theo): Bà Nguyễn Thị Xuân Tâm bằng khoán 363 đạt được 22m hai đầu”. Đã 31 năm nay, tôi liên tục yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đo đạc xác định đất của tôi tại bằng khoán 363 phải đạt được 22m hai đầu. Nhưng không hiểu tại sao trong Báo cáo số 1929 trên, Phòng TN&MT huyện Ba Tri lại không có nội dung nào thể hiện có việc lập “Biên bản về việc đo đạc xác định ranh giới đất tranh chấp” ngày 10/12/1987. Tôi yêu cầu thực hiện biên bản này, để đo đạc các phần đất của ông Sang, bà Cheo và ông Châu bề ngang 16m, phần còn lại trả cho tôi”.
Từ sự việc trên, có thể thấy, quá trình giải quyết tranh chấp đã “bỏ sót” biên bản được lập năm 1987 là có thật. Bà Tâm cho rằng, đường đi là của gia đình bà và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đo đạc các thửa đất của ông Sang, bà Cheo và ông Châu mỗi thửa bề ngang 16m, phần còn lại trả cho bà (đúng 22m hai đầu theo biên bản lập ngày 10/12/1987) là có cơ sở.
Mai Thân