Nỗi bất an của nguyên đơn là những người cao tuổi
Pháp luật 06/03/2026 11:52
Bản án phúc thẩm số: 314/2025/HS-PT ngày 17/9/2025, Tòa phúc thẩm giữ nguyên phần hình sự và dân sự. Tuy nhiên, thay vì khắc phục cách áp dụng pháp luật ở cấp sơ thẩm, Tòa sơ thẩm lại chuyển sang hướng xử lí: Sau khi phát mãi tài sản thế chấp, buộc các bị cáo chịu phần lãi chưa thu hồi được theo tỉ lệ: Bị cáo Nhân 50%, bị cáo Hải 25%, bị cáo Liệu 15% và bị cáo Anh 10%.
![]() |
| Các bị cáo tại phiên toà sơ thẩm. |
Trao đổi về vụ việc ThS. luật sư Phạm Thanh Bình và luật sư Vũ Văn Vinh thuộc Đoàn Luật sư TP Hà Nội đều cho rằng, cách giải quyết vụ án của toà phúc thẩm bộc lộ những bất cập trong việc áp dụng pháp luật. Việc dùng cùng tỉ lệ phần trăm (%) nhưng không áp dụng cho khoản “thiệt hại” hơn 291 tỉ đồng đã dùng để định tội, mà chuyển sang phân bổ trên tiền lãi, khiến cách xác định và xử lí “thiệt hại” trong vụ án trở nên khó có thể lí giải và vượt ngoài chuẩn mực pháp lí.
Theo Điều 587 BLDS năm 2015 và Công văn số: 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của TAND Tối cao, trong trường hợp thiệt hại do nhiều người gây ra thì các chủ thể phải liên đới bồi thường theo mức độ lỗi. Tuy nhiên, thay vì xử lí khoản thiệt hại đã được xác định, cả hai cấp Toà lại công nhận hợp đồng tín dụng còn hiệu lực và buộc cá nhân, doanh nghiệp tiếp tục trả nợ gốc và lãi đến ngày 19/7/2024. Trong khi đó, vụ án đã bị khởi tố từ ngày 24/12/2015. Cách xử lí này đồng nghĩa với việc, thời gian gần 9 năm điều tra, truy tố và xét xử đã bị “chuyển hóa” thành nghĩa vụ tài chính buộc cá nhân và doanh nghiệp phải gánh chịu.
Trong suốt thời gian đó, Chủ sở hữu doanh nghiệp bị tạm giam 28 tháng; sau khi tại ngoại bị cấm rời khỏi nơi cư trú gần 7 năm; tài sản bị kê biên, con dấu bị thu giữ, Cục Thuế đình chỉ mã số thuế với lí do doanh nghiệp không còn hoạt động. Công ty, Dự án nhà máy chế biến đang hoàn thiện phải dừng, hoạt động hoàn toàn bị “đóng băng”.
Luật sư phân tích về nguyên tắc pháp luật, lãi vay phát sinh từ quan hệ tín dụng không được coi là thiệt hại theo Điều 105 và Điều 589 BLDS năm 2015. Tội danh trong vụ án là “vi phạm quy định về cho vay” thuộc nhóm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, không phải xâm phạm quyền sở hữu, nên việc cộng lãi vay vào thiệt hại để xử lí hình sự và định khung hình phạt là không phù hợp với bản chất tội danh và quy định pháp luật.
Đồng thời, theo Khoản 2, Điều 10 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, trong trường hợp không thể xác định thiệt hại tại các thời điểm khác thì thời điểm khởi tố vụ án được xác định là mốc chậm nhất để xác định thiệt hại. Đối chiếu với vụ án, ngày 24/12/2015 là thời điểm khởi tố và cũng là mốc pháp lí để xác định thiệt hại của ngân hàng (nếu có).
Điều đó có nghĩa, thiệt hại (nếu có) chỉ được xác định đến thời điểm khởi tố vụ án và lãi vay không phải là căn cứ thiệt hại trong xử lí hình sự. Mặt khác, việc kéo dài điều tra, truy tố, xét xử thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, không thể biến thành gánh nặng tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp. Do đó, việc buộc tiếp tục thanh toán nợ gốc và lãi đến ngày 19/7/2024 vừa không phù hợp với thực tiễn, vừa “khác biệt” các giới hạn mà pháp luật đặt ra.
Cũng theo luật sư, không chỉ bất cập trong cách xác định “thiệt hại”, bản án phúc thẩm còn gây băn khoăn ở quyết định tịch thu toàn bộ phần tiền dư sau khi phát mãi các tài sản tại số 12 và 51 đường Nguyễn Trãi, TP Cần Thơ, với lí do đây là “tiền do phạm tội mà có”, trong khi tội danh chỉ là vi phạm quy định về cho vay, không phải chiếm đoạt hay trục lợi.
Điều đáng quan tâm là Tòa án vừa công nhận hợp đồng tín dụng còn hiệu lực, buộc phát mãi các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ gốc và lãi đến ngày 19/7/2024, nhưng lại đồng thời coi chính phần giá trị còn dư từ việc xử lí tài sản hợp pháp đó là “tài sản do phạm tội mà có”, khiến phán quyết trở nên mâu thuẫn.
Luật sư cho rằng, về cấu thành tội phạm tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”, cả hai cấp toà xét xử đều xác định đây là vụ án đồng phạm, với chủ thể là các cán bộ ngân hàng. Theo đó, bị cáo Hải và bị cáo Liệu bị xác định giữ vai trò chủ mưu, còn bị cáo Anh giữ vai trò thực hành.
Theo khoa học pháp luật hình sự, đồng phạm gồm 4 vai trò: Chủ mưu, thực hành, xúi giục hoặc giúp sức. Tại phiên sơ thẩm, đại diện Viện KSND Cần Thơ cho rằng bị cáo Nhân giữ 2 vai trò, xúi giục và thực hành. Tuy nhiên, cả bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều không xác định vai trò của bị cáo Nhân, cũng như của bị cáo Thi và bị cáo Đạt.
ThS. luật sư Phạm Thanh Bình cho rằng, bị cáo Nhân chỉ là người đi vay, không phải chủ thể của tội vi phạm quy định về cho vay. Các cán bộ ngân hàng được xác định giữ vai trò chủ mưu và thực hành trong vụ án xác nhận, bị cáo Nhân không xúi giục, giúp sức hay tác động đến việc thẩm định giá, vốn là nghiệp vụ nội bộ của ngân hàng. “Khi những người trực tiếp thực hiện hành vi đều khẳng định ông Nhân không liên quan, thì căn cứ nào để Tòa án vẫn xác định ông là đồng phạm mà không làm rõ vai trò cụ thể?”, luật sư Bình nêu câu hỏi.
Luật sư Vũ Văn Vinh (bào chữa cho bị cáo Đạt) lại cho rằng, bị cáo Đạt và bị cáo Thi không phải là cán bộ ngân hàng, cũng không phải người vay vốn, nên không thể bị coi là đồng phạm theo Điều 179 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999. Bên cạnh đó, bản án sơ thẩm chỉ xác định bị cáo Nhân giữ vai trò “thứ yếu”, nhưng không làm rõ “thứ yếu” thuộc dạng nào trong bốn vai trò đồng phạm. Nếu là vai trò “thứ yếu”, bị cáo Nhân chỉ có thể là người xúi giục hoặc giúp sức, song cả bản án sơ thẩm lẫn phúc thẩm đều không xác định cụ thể là vai trò gì.
Pháp luật không quy định việc truy cứu trách nhiệm với người “giúp sức cho người giúp sức” hoặc “giúp sức cho người xúi giục”. Đồng phạm chỉ hình thành khi có sự phối hợp trực tiếp giữa các vai trò theo luật định. Do đó, nếu bị cáo Nhân bị xem là xúi giục hoặc giúp sức, thì việc cho rằng bị cáo Đạt và bị cáo Thi “giúp sức” cho bị cáo Nhân sẽ là “bất cập” về căn cứ pháp lí để kết tội.
“Về pháp lí, bị cáo Đạt và bị cáo Thi không phải cán bộ ngân hàng, không phải người vay vốn, cũng không giữ bất kì vai trò nào trong cấu trúc đồng phạm theo Điều 179 BLHS 1999. Bản án phúc thẩm cũng không buộc 2 bị cáo chịu bất kì tỉ lệ lãi nào, trong khi việc chia tỉ lệ lãi cho các bị cáo khác vốn đã bị chính các luật sư cho là trái luật - liệu đây có là một nghịch lí cho thấy phán quyết có tội đã vượt ra ngoài giới hạn của pháp luật?” luật sư Vũ Văn Vinh nêu vấn đề.