Sau khi cấp ủy, chi bộ ra nghị quyết lãnh đạo chuyến đi, cuộc họp đơn vị được tiến hành. Ý kiến thảo luận sôi nổi, những khó khăn, vướng mắc được anh em đóng góp biện pháp khắc phục. Tôi kết luận cuộc họp và thông qua quyết tâm gửi cấp trên, nhưng bất ngờ Trần Văn Nhợ - người mà cả tàu thường thân mật gọi là “Bố già”, xin phát biểu. Anh Nhợ nói: “Tàu ta được đi vào dịp Tết là hiếm có. Vì vậy, tôi đề nghị phải chuẩn bị cái gì để cùng ăn Tết với anh em ở bến”. Tiếng hoan hô đồng tình vang dậy. Thế là ngoài việc nhận vũ khí, theo dõi thời tiết, nắm tình hình địch… một bộ phận đi mua nếp về gói bánh chưng, bánh tét, lo quà Tết.
Công tác chuẩn bị hoàn thành sớm hơn dự định một ngày. Sau khi nghe báo cáo, tôi trực tiếp kiểm tra. Đến khoang hàng, tôi thấy một hòm gỗ đậy kín, bên ngoài ghi “Quà đón Xuân vui Tết”, bên cạnh là cành đào sum suê hoa lá. Tôi hỏi: “Hòm gỗ có trong danh mục chuyển hàng cho bến không?”. Máy trưởng Nhạn báo cáo: “Hòm do tàu ta xuất phiếu thôi ạ!”. Anh mở nắp hòm và đọc bản liệt kê: “30 bánh chưng, bánh tét, 10 gói kẹo, bánh quy, 5 gói chè, 20 gói thuốc lá, 40 chai bia và một cành đào. Tất cả đều không có nhãn hiệu, như con tàu không số của ta”. Tôi gật đầu. Chiếc hòm gỗ chiếm một diện tích rất nhỏ trong khoang hàng nhưng chứa đựng tình cảm của toàn thể cán bộ, chiến sĩ tàu 41, đa phần quê Phú Yên. Bằng số tiền dành dụm, họ gửi gắm tình yêu quê hương qua từng món quà trong chuyến đi này.
|
Nhìn đồng hồ đã 16 giờ, chỉ còn 8 tiếng nữa tàu phải có mặt tại Vũng Rô. Thuyền phó xem hải đồ rồi báo cáo: “Tàu ta cách Đá Bia hơn 60 hải lí, khả năng vào bến trễ giờ”. Tôi quyết định sử dụng tốc độ dự bị. 23 giờ 50 phút, tàu thả trôi giữa Vũng Rô. Tôi vừa cho thả xuồng để vào bến tìm bộ phận đón thì thuyền của bến cập mạn. Cán bộ, chiến sĩ của tàu và bến ôm chầm lấy nhau trong niềm vui ngập tràn. Bỗng từ phía bờ, hàng loạt súng pháo các cỡ nổ vang, đèn dù xanh đỏ từ đồn dốc Ba Ty phụt lên treo lơ lửng. Cùng lúc ấy, từ phòng báo vụ, chiếc đài bán dẫn vang lên lời Bác Hồ chúc Tết. Phút giao thừa năm 1965 đã tới. Phú Yên ơi! Chúng con đã về giữa mùa Xuân tràn đầy sức sống.
Giá như một hoàn cảnh khác thì cuộc vui còn có thể kéo dài, nhưng công việc còn bề bộn. Tàu phải vào sát núi và ngụy trang kín đáo trước khi trời sáng. Sau khi bố trí các tổ bám tình hình địch, cuộc liên hoan mừng Tết Ất Tỵ được tiến hành trên nắp khoang hàng. Thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng, bánh tét, kẹo, bia và thuốc lá được bày ra. Cánh đào Nhật Tân - Hà Nội bên nhành mai vàng của núi Đá Bia khoe sắc càng tăng thêm hương vị của mùa Xuân.
Trong niềm vui chan chứa, tôi thay mặt anh em trên tàu chúc Tết cán bộ, chiến sĩ của bến, chúc Nhân dân Phú Yên năm mới giành thắng lợi to lớn hơn như thư chúc Tết của Bác Hồ. Tiếng pháo tay thay tiếng pháo Tết giòn giã. Anh Sáu, lãnh đạo bến giục cô gái ngồi bên cạnh chúc Tết thủy thủ tàu. Cô nói: “Đảng, Bác Hồ, đồng bào miền Bắc lo cho miền Nam từng khẩu súng, viên đạn, bát cơm, viên thuốc. Các anh vượt sóng to, gió lớn, đối mặt với quân thù chuyển hàng chi viện cho miền Nam, quê hương Phú Yên quyết xứng đáng với tình nghĩa cao cả đó”.
Tối mùng Một, tàu dỡ hàng. Công việc tấp nập, khẩn trương trong tiếng súng bắn cầm canh từ các bốt địch. Hàng bốc lên là vũ khí, thuốc men. Hàng đưa xuống là cát để giữ tàu ổn định khi gặp sóng to, gió lớn. Một cán bộ cầm theo một gói nhỏ bọc trong khăn tay tìm tôi. Anh nói: “Bà con Phú Yên xin gửi tàu nắm đất Vũng Rô, mảnh đất kiên cường bất khuất, giặc càn đi xéo lại nhiều lần, phải ăn trái sung thay cơm gạo nhưng vẫn một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ. Có súng đạn của miền Bắc chi viện, mảnh đất này sẽ là điểm tựa của những chiến công”. Bùi ngùi xúc động, cầm nắm đất Vũng Rô, tôi như ôm cả Phú Yên ruột thịt. Ba giờ sáng mùng Hai Tết, tàu rời bến Vũng Rô. Người ra đi và người ở lại tay siết chặt tay, hẹn ngày gặp lại.
Đã hơn nửa thế kỉ, nhưng trong tôi, kỉ niệm về cái Tết ở Vũng Rô không bao giờ phai nhạt
Nguyễn Thành Trung
(Ghi theo lời kể của Trung tá Anh hùng LLVT Hồ Đắc Thạnh,
cựu Thuyền trưởng tàu 41, Đoàn 125, Quân chủng Hải quân)
