Chiếm đoạt hơn 40 tỷ đồng từ việc trục lợi chính sách nhà ở xã hội
Pháp luật 20/03/2026 10:13
Theo hồ sơ vụ án, ngân hàng không xác định họ là bị hại, không thừa nhận có thiệt hại thực tế và cũng không yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm và phúc thẩm vẫn viện dẫn kết luận định giá để xác định số tiền hơn 291,216 tỉ đồng là “thiệt hại” nhưng lại không buộc các bị cáo phải bồi thường khoản tiền này. Mâu thuẫn cũng thể hiện trong phần trách nhiệm dân sự của bản án phúc thẩm. Tòa án tuyên, sau khi phát mãi tài sản thế chấp, số tiền lãi chưa thu hồi được sẽ do các bị cáo chịu theo tỉ lệ: Nhân 50%, Hải 25%, Liệu 15% và Tuấn Anh 10%. Theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, khi xác định có thiệt hại, nguyên tắc bắt buộc là buộc bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Trong khi đó, lãi phát sinh từ quan hệ tín dụng không được coi là thiệt hại trong chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Việc không buộc bồi thường khoản “thiệt hại” đã được xác định, mà lại phân bổ nghĩa vụ “chịu lãi chưa thu hồi được” theo tỉ lệ (%) giữa các bị cáo là chưa dựa trên các căn cứ pháp lí về lỗi, quan hệ nhân quả và mức độ trách nhiệm.
![]() |
| Phiên tranh luận tại phiên xét xử ngày 21/8/2024. |
Ngoài ra, bản án có dấu hiệu xác định sai thời điểm thiệt hại. Vụ án được khởi tố từ ngày 24/12/2015 và kéo dài gần 10 năm. Theo quy định tại Khoản 2, Điều 10 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, trong trường hợp không thể xác định thiệt hại tại các thời điểm khác thì thiệt hại được xác định tại thời điểm khởi tố vụ án. Đối chiếu với vụ án, mốc khởi tố ngày 24/12/2015 được coi là thời điểm xác định thiệt hại của ngân hàng (nếu có).
Đáng lưu ý, bản án xác định thiệt hại về tài sản khi cộng lãi vay vào thiệt hại là chưa phù hợp với BLDS năm 2015 và bản chất tội danh. Điều 589 BLDS năm 2015 không quy định thiệt hại bao gồm lãi vay là lợi ích phát sinh từ quan hệ tín dụng, lãi vay cũng không phải là tài sản theo Điều 105 BLDS năm 2025. Hơn nữa, tội danh bị tòa án truy cứu trong vụ án thuộc nhóm các tội “xâm phạm trật tự quản lí kinh tế” không phải “quyền sở hữu”.
Thêm vào đó, bản án phúc thẩm cho rằng, phần tiền còn dư sau khi phát mãi quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại số 12 và số 51 đường Nguyễn Trãi, TP Cần Thơ cần bị tịch thu sung quỹ Nhà nước vì được coi là “tiền do phạm tội mà có”. Tuy nhiên, nhận định này lại không chứng minh được mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi phạm tội với việc hình thành khoản tiền còn dư.
Theo nguyên tắc của pháp luật hình sự, chỉ những khoản tiền phát sinh trực tiếp từ hành vi phạm tội, mang tính thu lợi bất hợp pháp hoặc là kết quả của hành vi chiếm đoạt thì mới bị coi là “tiền do phạm tội mà có”. Trong vụ án này, tội danh áp dụng theo Điều 179 BLHS năm 1999 là tội “Vi phạm quy định về cho vay”, không phải tội “chiếm đoạt tài sản”. Số tiền còn dư sau khi xử lí tài sản bảo đảm không phát sinh từ hành vi phạm tội, mà là giá trị còn lại của tài sản thế chấp hợp pháp đã tồn tại trước đó và được xử lí trong khuôn khổ hợp đồng tín dụng.
Theo Điều 307 BLHS năm 2015, phần giá trị còn lại sau xử lí tài sản bảo đảm phải hoàn trả cho bên thế chấp. Đó là chưa kể đến mẫu thuẫn khi bản án vừa công nhận hợp đồng tín dụng còn hiệu lực và buộc doanh nghiệp trả nợ gốc, lãi đến ngày 19/7/2024, vừa coi phần tiền dư sau xử lí tài sản bảo đảm là “tài sản do phạm tội mà có”.
![]() |
| ThS. Luật sư Phạm Thanh Bình. |
Xuất phát từ những vấn đề pháp lí nêu trên, Luật sư Phạm Thanh Bình cho biết: “Vụ án cần được cơ quan chức năng có thẩm quyền xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Đồng thời xem xét, cho tạm hoãn thi hành án nhằm tránh phát sinh những hậu quả pháp lí khó hoặc không thể khắc phục trong trường hợp bản án bị sửa đổi hoặc hủy bỏ sau này”.
Đồng quan điểm với Luật sư Phạm Thanh Bình, Luật sư Vũ Văn Vinh, Công ty Luật Thiên Ngân, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho biết, tội danh theo Điều 179 BLHS năm 1999 không phải tội chiếm đoạt hay thu lợi bất chính, nên cần xem xét phần giá trị còn dư sau khi xử lý tài sản bảo đảm là “tiền do phạm tội mà có”. Luật sư Vũ Văn Vinh nêu “bất cập” trong cách xử lí phần giá trị tăng thêm của tài sản. Các tài sản được thế chấp từ các năm 2012–2013, đến thời điểm năm 2024 đã trải qua hơn 12 năm. Trong khoảng thời gian này, giá trị tài sản tăng mạnh là hệ quả tất yếu của lạm phát tích lũy, tăng trưởng kinh tế, biến động giá vàng, sự phát triển hạ tầng và các quyết định quy hoạch đô thị của Nhà nước. Đối với các bất động sản ở vị trí trung tâm thành phố, mức tăng phổ biến từ 6–8 lần, thậm chí có trường hợp vượt trên 15 lần.
Theo Luật sư Vũ Văn Vinh, nếu bản án phúc thẩm coi toàn bộ phần tăng giá này là “tài sản do phạm tội mà có” thì chưa phù hợp với logic pháp lí thông thường. Trong khi đó, việc đánh giá giá trị tài sản bảo đảm được Thanh tra Chính phủ kết luận việc định giá là phù hợp, không có dấu hiệu nâng khống.
Những kết luận này cũng đã được các cơ quan tiến hành tố tụng ghi nhận trong bản án, khi cả án sơ thẩm và phúc thẩm đều viện dẫn Kết luận số: 978/KL-TTCP của Thanh tra Chính phủ và kiến nghị cơ quan điều tra xem xét trách nhiệm cá nhân liên quan.