Tóm tắt nội dung vụ án
Thửa đất số 155, tờ bản đồ số 2, diện tích 9.550m2 (đo đạc thực tế 10.249,8m2), tại ấp Ao Vuông, xã Phú Long, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre thuộc quyền sử dụng của ông Lê Văn Nghiệp. Ông Nghiệp và vợ là bà Huỳnh Thị Trong lập di chúc cho con gái là chị Lê Thị Dung, sinh năm 1967, một phần đất và nhà thuộc diện tích đất trên (di chúc có chứng thực của UBND xã Phú Long). Ngày 2/5/2012, ông Nghiệp chết, bà Trong làm đơn khởi kiện. Bị đơn là 6 người con của ông Nghiệp và bà Trong; chị Dung là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tại tòa, chị Dung trình bày: “Nguồn gốc thửa đất do ngoại tôi cho mẹ tôi nửa mẫu (1/2 thửa) vào năm 1966, còn lại nửa mẫu cha mẹ tôi mua của dì Tư là Huỳnh Thị Hai vào năm 1975 (nửa mẫu đất này cũng do ngoại tôi cho dì Hai). Hai phần đất này giáp ranh nhau nên khi đăng kí kê khai lần đầu năm 1995, cha tôi đã nhập chung thành một thửa 155 tờ bản đồ số 2, diện tích 9.550m2 xã Phú Long, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cấp ngày 5/5/1995 cho cá nhân ông Lê Văn Nghiệp. Cha mẹ tôi không có văn bản thỏa thuận nào nhập nửa mẫu đất của ông bà ngoại cho mẹ tôi vào tài sản chung của cha mẹ tôi. Ngày 18/6/2007, GCNQSDĐ trên được cấp lại cho ông Lê Văn Nghiệp đúng theo qui định pháp luật về đất đai (Văn bản 210 của Văn phòng ĐKQSDĐ huyện Bình Đại gửi TAND huyện Bình Đại ngày 11/6/2015). Ngày 23/11/2011, cha mẹ tôi có lập di chúc để lại cho tôi (Lê Thị Dung) 45m ngang, chiều dài hết đất, diện tích 3.521,1m2 và căn nhà tọa lạc trên thửa đất này. Khi cha tôi chết, tài sản do ông đứng tên phát sinh tranh chấp chia thừa kế. Tháng 3/2013, mẹ tôi gửi đơn kiện đến TAND huyện Bình Đại yêu cầu công nhận nửa mẫu đất của ông bà ngoại cho mẹ tôi là tài sản riêng của mẹ tôi trong khối tài sản chung của vợ chồng và chia di sản thừa kế.
|
| Chị Lê Thị Dung bên hàng dừa do ông Nghiệp trồng trên đất xâm canh không có đưa đất vào tập đoàn. |
Phía bị đơn trình bày: Thửa đất tranh chấp có đưa vào tập đoàn. Những nhân chứng do bị đơn yêu cầu và UBND xã Phú Long trả lời với TAND huyện Bình Đại, thửa đất tranh chấp có đưa vào tập đoàn sản xuất. Sau đó, tập đoàn đã bình quân nhân khẩu khoán lại cho hộ gia đình ông Nghiệp. Nhưng đều không có giấy tờ làm bằng.
Có dấu hiệu xét xử chưa khách quanHai cấp Tòa của tỉnh Bến Tre dựa vào lời khai trên của các bị đơn để cho là di chúc vô hiệu, với nhận định đất trên đã đưa vào tập đoàn sản xuất năm 1982 - 1984; và tập đoàn đã bình quân nhân khẩu khoán lại cho hộ gia đình ông Nghiệp, không còn là tài sản của ông Nghiệp và bà Trong. Việc ông Nghiệp, bà Trong lập di chúc trên là không đúng. Chị Dung không đồng tình phán quyết của Tòa án, có đơn khiếu nại đề nghị giám đốc thẩm.
Trong đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án số 280/2017/DS-PT ngày 13/11/2017 của TAND tỉnh Bến Tre, chị Dung nêu: Những chứng cứ giấy tờ đúng của nguyên đơn, Tòa không xem xét. Tòa chỉ dựa vào lời khai không có giấy tờ do bị đơn yêu cầu Tòa xác minh để nhận định thửa đất tranh chấp có đưa vào tập đoàn sản xuất năm 1982 - 1984 là không đúng, không phù hợp với thực tế. Vì thời điểm này toàn bộ xã Phú Long, khu vực từ kênh Bà Mụ đến kênh Nhà Chung trong đó có thửa đất của ông Nghiệp (cha tôi) thực tế sử dụng đất, đất của ai người đó tự làm, sao gọi là tập đoàn sản xuất. Năm 1982 - 1984, thửa đất ông Nghiệp và bà Trong trực tiếp canh tác sao gọi là đưa vào tập đoàn sản xuất được? Bị đơn đã cho rằng việc thửa đất trên đã đưa vào Tập đoàn sản xuất và Tập đoàn đã bình quân nhân khẩu khoán lại cho hộ gia đình mỗi người 1.200m2 đất, nhưng không có giấy tờ làm bằng, bị đơn chỉ đề nghị TAND huyện Bình Đại xác minh lấy lời khai những người theo yêu cầu của bị đơn. Sau đó Tòa dựa vào những lời khai này gọi là “chứng cứ”. Và UBND xã Phú Long trả lời với TAND huyện Bình Đại là thửa đất tranh chấp có đưa vào tập đoàn sản xuất, nhưng cũng không có giấy tờ gì làm bằng”.
Trao đổi với phóng viên, chị Dung cho biết: “Lời khai của những người do bị đơn đề nghị xác minh và trả lời của UBND xã Phú Long là không đúng thực tế sử dụng đất của nông dân xã Phú Long. Toàn xã Phú Long, khu vực đất từ kênh Bà Mụ đến kênh Nhà Chung trong đó có thửa đất tranh chấp từ trước đến nay và giai đoạn năm 1982 - 1984, đất của ai người đó tự làm sao gọi là đưa vô Tập đoàn sản xuất, toàn bộ xã Phú Long không có Tập đoàn sản xuất. GCNQSDĐ thửa đất tranh chấp năm 1995 cấp cho cá nhân ông Lê Văn Nghiệp, nhưng ông Hùng (người khai theo yêu cầu của bị đơn) lại khai cấp cho hộ ông Nghiệp để phù hợp với lời khai của bị đơn thửa đất đã đưa vô tập đoàn, và tập đoàn đã bình quân nhân khẩu khoán lại cho hộ gia đình. Ông Hùng khai rằng, theo Quyết định số 72/QĐ-UB ngày 5/5/1995, thì toàn bộ GCNQSDĐ phải cấp cho hộ, không ai được cấp cá nhân là không đúng thực tế. Vì hiện thực tế có 3 GCNQSDĐ cấp cùng Quyết định số 72/QĐ-UB với ông Nghiệp, lại có thể hiện được cấp cho cá nhân: GCNQSDĐ cấp cho bà Lê Thị Tặng; GCNQSDĐ cấp cho bà Lê Thị Phận; GCNQSDĐ cấp cho ông Hồ Văn Ca. Riêng GCNQSDĐ của ông Hồ Văn Ca có kèm theo hồ sơ cấp giống hồ sơ cấp GCNQSDĐ của ông Nghiệp năm 1995. Đây là bằng cớ chứng minh lời khai của ông Hùng về GCNQSDĐ thửa đất tranh chấp, năm 1995 cấp cho hộ ông Nghiệp là không đúng, mà chính xác là cấp cho cá nhân ông Nghiệp”.
Để có thêm thông tin, phóng viên trực tiếp trao đổi với nhiều người ở địa phương. Trong đó có ông Nguyễn Văn Phùng, Chi hội trưởng Chi hội Nông dân ấp Ao Vuông, xã Phú Long (nguyên Chủ tịch Hội Nông dân xã Phú Long năm 1982 - 1984, đồng thời có tên trong danh sách Hội đồng xét duyệt cấp GCNQSDĐ của ông Nghiệp năm 1995, thể hiện trong biên bản họp xét duyệt họp ngày 7/10/1994 của UBND xã Phú Long) khẳng định: “Thời điểm năm 1982 - 1984, đất của ông Nghiệp là đất xâm canh, không được vào tập đoàn, không chia bình quân nhân khẩu. Toàn bộ xã Phú Long, toàn bộ ấp Ao Vuông và toàn bộ khu vực kênh Bà Mụ đến kênh Nhà Chung, trong đó có thửa đất tranh chấp từ trước đến nay không có tập đoàn sản xuất, đất của ai người đó tự làm, sản xuất cá thể. Hơn nữa, vào thời điểm 1982 - 1984, ông Nghiệp không có hộ khẩu ở xã Phú Long (xác nhận của Công an huyện Bình Đại) nếu ông Nghiệp được bình quân nhân khẩu là trái Điều 6 Nghị định 64 của Chính phủ quy định: “Đối tượng giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài là nhân khẩu nông nghiệp thường trú tại địa phương”.
Ông Nguyễn Thành Trí, Chủ tịch UBND xã Phú Long cho biết: “Năm 2015, bà Bùi Thị Túy Phượng, Chủ tịch UBND xã Phú Long cung cấp thông tin cho Tòa án: Đất tranh chấp có đưa vào tập đoàn và được tập đoàn bình quân nhân khẩu khoán lại cho hộ gia đình ông Nghiệp; và có một số nhân chứng cũng xác nhận như bà Phượng”.
Trả lời câu hỏi, hiện có nhiều nhân chứng xác nhận nội dung ngược lại, tại sao UBND xã Phú Long không lấy ý kiến của những người này để cung cấp thông tin cho Tòa án? Ông Trí khẳng định: “UBND xã Phú Long không có giấy tờ gì để chứng minh nội dung cung cấp thông tin của bà Phượng nói trên. tôi nhận nhiệm vụ sau này, nhà báo liên hệ hỏi ông Ba Ngọc, Chủ tịch UBND xã thời gian năm 1980 - 1990.”
Có thể thấy, quyết định của Tòa án trong khi chưa có đầy đủ thông tin về nguồn gốc và biến động trong quá trình quản lí sử dụng đối với phần đất tranh chấp. Điều này thể hiện có dấu hiệu các cấp tòa xét xử chưa khách quan. Đây cũng là cơ sở để chị Dung có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án số 280/2017/DS-PT ngày 13/11/2017 của TAND tỉnh Bến Tre.
Mai Thân