Hai chiếc ghế trống trong lễ cưới và câu chuyện 20 năm ông bà nuôi cháu nên người
Nhịp sống 30/04/2026 14:00
Đến làng Đại An Khê hỏi về ông Thành, từ người già tới trẻ nhỏ đều nói cứ ra thẳng nghĩa trang liệt sĩ xã, vì đó được xem như là “ngôi nhà” thứ hai của ông. Và quả đúng vậy, trong ánh nắng gắt ban trưa, bước vào cổng nghĩa trang tôi đã thấy bóng dáng ông đang cần mẫn dọn dẹp, chăm sóc từng ngôi mộ liệt sĩ. Chuyện trò với ông, tôi càng xúc động khi biết 45 năm nay, ngày qua ngày ông vẫn đều đặn đi về con đường ra nghĩa trang xã trên chiếc xe đạp cọc cạch.
![]() |
| Ông Thành cẩn thận, tỉ mỉ chăm sóc cho liệt sĩ Hồ Thị Hữu, chị gái của mình tại nghĩa trang liệt sĩ xã |
Nhập ngũ từ năm 1977, khi vừa tròn 20 tuổi, sau 3 năm làm nghĩa vụ quốc tế ở chiến trường Campuchia, ông Thành trở về sinh sống tại làng Đại An Khê. Ông kể rằng, thời gian trong quân ngũ là quãng thời gian để lại nhiều kỷ niệm vui buồn và không ít mất mát đau thương khi chứng kiến cảnh các đồng đội hi sinh. Trở về từ chiến trường, ông mang theo trên mình những vết thương và trong lòng luôn đau đáu mong làm một điều gì đó cho thế hệ đi trước cũng như đồng chí đồng đội đã ngã xuống. Ít lâu sau, chàng thanh niên Hồ Xuân Thành lập gia đình cùng cô gái Trần Thị Yến, cũng là nữ du kích, cựu thanh niên xung phong trở về quê hương. Năm 1982, ông mạnh dạn tới UBND xã đề đạt nguyện vọng và được tin tưởng giao cho nhiệm vụ trông coi nghĩa trang xã. Ông Thành kể lại, thực ra công việc ban đầu là “người bảo vệ nghĩa trang”, bởi Nghĩa trang liệt sĩ xã Hải Thượng khi đó chỉ mới có vài trăm ngôi mộ liệt sĩ, hoang sơ và quạnh hiu lắm. Đến năm 1990, khi nghĩa trang được xây dựng mở rộng, UBND xã đề xuất phụ cấp cho ông một năm 3 tạ lúa nhận tại hợp tác xã. Từ năm 2000 - 2006, ông không được hỗ trợ lúa nữa mà được hỗ trợ tiền với mức 100 ngàn đồng/ tháng. Từ năm 2007 đến nay, mức hỗ trợ tăng lên 150 ngàn đồng/ tháng, rồi 300 ngàn đồng/tháng. Gia đình ông thuần nông, nên công việc hàng ngày của hai vợ chồng gắn liền với đàn vịt, bầy gà và đồng ruộng, ao vườn. Từ khi các con ra đời, gánh nặng cơm áo càng nhiều trên đôi vai ông. Số tiền 300 ngàn đồng được hỗ trợ từ công việc quản trang thực ra còn chẳng đủ mua dăm gói thuốc, bao trà để ông tiếp khách đến viếng, huống gì trang trải cuộc sống. Thế nhưng, ngần ấy năm trôi qua, dẫu lo toan còn nhiều cho phát triển kinh tế gia đình, ông Thành vẫn dành thời gian và đảm đương trọn công việc của một người quản trang vô cùng tận tụy.
Hiện nay, ông Thành còn kiêm thêm công việc bảo vệ Đền thờ bà mẹ Việt Nam anh hùng tại xã Hải Lăng. Số tiền hỗ trợ ít ỏi nhưng ông nói: “Xã hỗ trợ bao nhiêu thì tôi nhận bấy nhiêu, không đòi hỏi gì cả. Bởi với tôi, công việc quản lý nghĩa trang, chăm sóc mộ liệt sĩ là một niềm hạnh phúc vì đã tự tay mình gìn giữ, chăm lo giấc ngủ, sưởi ấm linh hồn cho các đồng chí, đồng đội và cả lớp người đi trước. Họ được thanh thản, ấm áp thì tôi cũng ấm lòng...”
Nghĩa trang liệt sĩ xã Hải Thượng hiện có hơn 2.000 ngôi mộ liệt sĩ. Nhìn ông quét dọn, làm cỏ, tưới hoa, chăm sóc cây cảnh và hương khói các phần mộ mà cảm thấy dường như trong ánh mắt, nụ cười ông đang chuyện trò với các đồng chí, với người thân. Ông bộc bạch rằng, hôm nào trở trời, vết thương cũ tái phát, hay bệnh của người già ông không ra nghĩa trang được là trong lòng lại thấy day dứt như có lỗi với đồng đội. Vào những ngày Rằm, đầu tháng, ông Thành đều đến dâng hương trước anh linh các liệt sĩ. Các dịp Tết, lễ hội và ngày kỷ niệm, ông chuẩn bị chu đáo, dọn dẹp lại nghĩa trang cho sạch đẹp để các tổ chức, đoàn thể và Nhân dân đến đặt vòng hoa, thắp hương tưởng niệm.
Khi tôi đến nghĩa trang, ông Thành đang loay hoay với cái máy bơm nước đã quá cũ, rồi kéo dây ra khắp các mộ phần để tưới hoa... Công việc cứ đều đều diễn ra như vậy, nhiều lúc quấn lấy ông mất cả ngày. Mệt nhọc, vất vả là thế, nhưng với ông, trên tất là cả tấm lòng tri ân sâu sắc đối với các liệt sĩ đã không tiếc máu xương vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Cách đây 14 năm, thấy nghĩa trang còn rộng mà không có bóng cây, ông “sưu tầm” nhiều loại hoa về trồng thành bồn hoa trong khuôn viên. Sau một thời gian vun trồng, tưới bón, bồn hoa tượng đài trong nghĩa trang lúc nào cũng rực rỡ sắc hoa. Ông lại đưa thêm hàng chục cây tùng, sứ, bàng về trồng xung quanh nghĩa trang và hai bên con đường chính từ cổng dẫn vào tượng đài. Mỗi khi có dịp đến viếng mộ liệt sĩ, nhiều bà con lại tấm tắc khen Nghĩa trang xã Hải Thượng đẹp và sạch sẽ không kém công viên. Quang cảnh này và tấm lòng của một người quản trang chân tình, tận tụy như ông Thành đã làm ấm lòng những người nằm xuống, làm yên lòng các thân nhân.
Trong khi thắp hương ở các phần mộ liệt sĩ, chợt tới một mộ phần, tôi bỗng thấy mắt ông Thành đỏ hoe. Ông nói rằng gia đình, dòng họ ông có nhiều mất mát lớn trong chiến tranh, và dưới mộ phần ông vừa dừng lại đó là chị gái ruột của ông là liệt sĩ Hồ Thị Hữu đã hi sinh năm 1972. Bố ruột ông Thành là liệt sĩ Hồ Thí từng được trao tặng Huân chương Chiến công hạng Ba, mẹ ruột ông là liệt sĩ Trần Thị Mười được trao tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Các cô chú, cậu dì của ông đều đã từng là những chiến sĩ cách mạng kiên trung, hi sinh anh dũng. Sẽ rất xứng đáng khi nói rằng những việc làm, những cống hiến thầm lặng của ông giờ đây chính là để tô đẹp thêm cho truyền thống của một gia đình cách mạng. Đáng quý hơn nữa, công việc quản trang, chăm sóc các phần mộ liệt sĩ của ông được cả gia đình chung tay, ủng hộ. Bà Trần Thị Yến, vợ ông Thành tâm sự: “Khi vừa lấy nhau thì chồng tôi đã làm công việc quản trang tại nghĩa trang liệt sĩ xã. Biết được tâm huyết và những cống hiến lặng thầm của ông ấy, tôi và các con rất đỗi tự hào, ủng hộ. Có những ngày việc nhiều, một mình làm không xuể thì chồng tôi lại “huy động” cả tôi, các con, cháu ra nghĩa trang. Điều mong muốn lớn nhất hiện nay là mong chồng tôi có sức khỏe để tiếp tục với công việc ý nghĩa mà ông ấy đã gắn bó suốt gần cả cuộc đời”. Năm 2020, ông Hồ Xuân Thành được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cũ) tặng Bằng khen và Kỷ niệm chương “Tấm gương sáng thầm lặng vì cộng đồng”. Ông tâm sự: “Mỗi một con người sinh ra gánh vác nhiều trách nhiệm. Với tôi, trong chiến tranh, trách nhiệm đó là chiến đấu vì nghĩa vụ cho Tổ quốc, nay mình may mắn còn sống thì phải trọn tình canh giữ, chăm lo cho những người đã khuất. Tôi ước ao trên khắp non sông ta sẽ không còn ngôi mộ nào vô danh, để các liệt sĩ đều có người thân thăm viếng, đưa về. Tôi tin rằng, anh linh các đồng chí, đồng đội vẫn luôn ở bên, dõi theo tôi mỗi lần tôi đến nghĩa trang này và chờ ngày đón tôi về cùng họ…”