Khoảng trống bảo vệ người trẻ sau tuổi 18
Theo tài liệu kiến nghị của Hội Hồi sức cấp cứu và Chống độc Việt Nam về dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá sửa đổi năm 2026, sự gia tăng tỷ lệ hút thuốc ở nhóm tuổi 20-24 đặt ra vấn đề cần xem xét: các biện pháp phòng ngừa hiện hành đã đủ sức bảo vệ người trẻ khi bước vào tuổi trưởng thành hay chưa?
![]() |
| Thế hệ trẻ nói không với thuốc lá. Ảnh: Minh hoạ |
Số liệu được dẫn cho thấy, tỷ lệ hút thuốc ở nam giới từ 15-19 tuổi là 5,46%, trong khi ở nhóm 20-24 tuổi lên tới 32,6%. Sự chênh lệch này cần được đặt trong bối cảnh các nhóm tuổi và phương pháp thống kê cụ thể, nhưng cũng gợi mở yêu cầu tăng cường phòng ngừa ở giai đoạn chuyển tiếp sang tuổi trưởng thành.
Các tổ chức chuyên môn y tế đề xuất đưa trở lại dự thảo quy định cấm công dân Việt Nam sinh từ ngày 1/1/2010 trở đi sử dụng thuốc lá thông thường; đồng thời cấm bán, cung cấp và mua hộ thuốc lá cho nhóm này, kể cả khi họ đủ 18 tuổi. Chính sách được đề xuất áp dụng theo năm sinh, nhằm ngăn một thế hệ bắt đầu hút thuốc thay vì chỉ can thiệp khi thói quen đã hình thành.
Theo tài liệu kiến nghị, phương án này từng được đưa vào quá trình xây dựng dự thảo sau khi Bộ Y tế và Bộ Tư pháp xem xét. Bệnh viện Bạch Mai cũng có Công văn số 1016/BM-QLCLKCB ngày 15/2/2026 gửi các cơ quan liên quan, đề xuất cấm hút thuốc và bán thuốc lá đối với công dân sinh từ năm 2010, đồng thời kiến nghị cấm hút thuốc trong học sinh, sinh viên.
Tuy nhiên, đề xuất sau đó bị rút khỏi dự thảo. Đây là vấn đề cần được cơ quan soạn thảo giải trình rõ, nhất là khi các tổ chức chuyên môn tiếp tục kiến nghị xem xét lại. Trọng tâm không chỉ là có nên áp dụng biện pháp cấm theo thế hệ hay không, mà còn là căn cứ nào được sử dụng để lựa chọn hoặc loại bỏ một giải pháp phòng ngừa dài hạn.
Nicotine gây lệ thuộc, cai thuốc không dễ dàng
Cơ sở quan trọng của kiến nghị là đặc tính gây nghiện của nicotine. Theo ý kiến chuyên môn do TS.BS Nguyễn Trung Nguyên, Giám đốc Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai, cung cấp, nghiên cứu của Quintero (2011) được dẫn với tỷ lệ tích lũy từ khi bắt đầu sử dụng đến khi hình thành nghiện là 67,5% đối với nicotine, 22,7% với rượu, 20,9% với cocaine và 8,9% với cần sa.
![]() |
Tài liệu cũng dẫn các nghiên cứu cho thấy sự lệ thuộc nicotine có thể hình thành chỉ sau vài ngày sử dụng. Nghiên cứu của Chaiton và cộng sự (2016) được viện dẫn để cho thấy một người có thể phải thử cai thuốc tới 30 lần.
Các con số này cần được xem xét theo phương pháp nghiên cứu, đối tượng và tiêu chí xác định nghiện của từng công trình, tránh suy rộng thành kết luận tuyệt đối. Tuy nhiên, chúng góp phần đặt ra vấn đề: nếu chỉ trông chờ vào quyết định cá nhân sau khi người trẻ đã bắt đầu hút thuốc, việc phòng ngừa có thể gặp nhiều khó khăn.
Khi lệ thuộc nicotine hình thành, người hút có thể phải trải qua nhiều lần cai bỏ, đối mặt với nguy cơ tái nghiện và những tổn hại sức khỏe tích lũy theo thời gian. Vì vậy, bên cạnh tư vấn và hỗ trợ cai thuốc, ngăn việc bắt đầu sử dụng cần được xem xét như một hướng can thiệp từ sớm.
Thiệt hại thuốc lá vượt ra ngoài người hút
Theo tài liệu kiến nghị của Hội Hồi sức cấp cứu và Chống độc Việt Nam, thuốc lá liên quan đến khoảng 12,4% tổng gánh nặng bệnh tật và 17,8% số ca tử vong tại Việt Nam. Tài liệu cũng nêu ước tính hơn 100.000 người tử vong mỗi năm do thuốc lá thông thường và khoảng 18.800 trường hợp tử vong mỗi năm liên quan đến phơi nhiễm khói thuốc thụ động.
Một nghiên cứu về 35 bệnh liên quan đến thuốc lá tại Việt Nam được tài liệu dẫn ước tính chi phí kinh tế năm 2022 khoảng 108.700 tỷ đồng, tương đương 1,14% GDP; chi phí môi trường do thuốc lá khoảng 99.000 tỷ đồng, tương đương 1,04% GDP.
Những số liệu trên cho thấy đánh giá tác động của thuốc lá không thể chỉ dừng ở chi phí khám, chữa bệnh. Tổn thất còn liên quan đến năng suất lao động, môi trường và sức khỏe của những người không hút thuốc nhưng thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc.
Vì vậy, khi xem xét chính sách, cần đặt nguồn thu từ sản xuất, kinh doanh và thuế thuốc lá bên cạnh những chi phí mà xã hội phải gánh chịu. Với người cao tuổi, hậu quả sức khỏe tích lũy qua nhiều năm càng khiến việc phòng ngừa từ sớm có ý nghĩa, góp phần hạn chế nguy cơ bệnh tật và nhu cầu chăm sóc trong tương lai.
Cấm theo thế hệ phải đi cùng cơ chế thực thi
Cảnh báo sức khỏe trên bao thuốc, hạn chế quảng cáo, xây dựng môi trường không khói thuốc và hỗ trợ cai nghiện đều có vai trò trong phòng, chống tác hại của thuốc lá. Tuy nhiên, theo lập luận của các tổ chức chuyên môn kiến nghị sửa đổi luật, cần kết hợp những biện pháp này với giải pháp ngăn người trẻ bắt đầu hút thuốc.
Theo tài liệu kiến nghị, Maldives với mốc sinh từ ngày 1/1/2007 và Vương quốc Anh với mốc sinh từ ngày 1/1/2009 là những ví dụ được viện dẫn về cách tiếp cận hạn chế bán thuốc lá theo năm sinh. Các mô hình này có thể là nguồn tham khảo, nhưng cần đánh giá cụ thể về quy định pháp luật, hiệu quả và cách thức thực thi tại từng quốc gia.
![]() |
Đối với đề xuất áp dụng tại Việt Nam từ mốc sinh ngày 1/1/2010, cần làm rõ cơ sở pháp lý, đối tượng chịu tác động, trách nhiệm của người bán và cơ chế xử lý hành vi mua hộ, cung cấp thuốc lá cho người thuộc diện cấm. Đặc biệt, phải quy định rõ cách áp dụng khi nhóm này đủ 18 tuổi, bởi đây là điểm cốt lõi của chính sách theo thế hệ.
Tính khả thi cũng là vấn đề không thể bỏ qua. Nguy cơ mua bán không chính thức, giao dịch trên môi trường mạng và hành vi né tránh quy định cần được đánh giá ngay từ khâu xây dựng chính sách. Một điều cấm sẽ khó đạt mục tiêu nếu thiếu hướng dẫn thực hiện, cơ chế giám sát và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng.
Song song với kiểm soát nguồn cung, cần duy trì truyền thông tại gia đình, trường học và cộng đồng; tạo điều kiện để người đang hút thuốc tiếp cận dịch vụ tư vấn, hỗ trợ cai nghiện. Chính sách phòng ngừa không nên biến người hút thuốc thành đối tượng bị quy kết, mà cần giúp họ giảm tác hại và có cơ hội từ bỏ lệ thuộc nicotine.
Cần giải trình rõ việc rút đề xuất
Theo tài liệu của Hội Hồi sức cấp cứu và Chống độc Việt Nam, phương án cấm thuốc lá đối với thế hệ sinh từ năm 2010 từng được đưa vào dự thảo và được đánh giá tác động. Tài liệu mô tả kết quả đánh giá là cần thiết, khả thi, tác động hạn chế đến đời sống và tạo thời gian để các hoạt động kinh doanh liên quan chuyển đổi. Tuy nhiên, cần xem xét báo cáo đánh giá tác động đầy đủ để làm rõ cơ sở của những nhận định này.
Nếu cơ quan soạn thảo cho rằng các biện pháp hiện hành đã đủ hiệu quả, cần công khai căn cứ đánh giá, nhất là trước số liệu được dẫn về tỷ lệ hút thuốc ở nhóm nam giới 20-24 tuổi. Nếu đề xuất bị rút do vướng mắc pháp lý, khó khăn trong thực thi hoặc nguy cơ phát sinh thị trường bất hợp pháp, những vấn đề đó cũng cần được phân tích cụ thể.
Việc xem xét lại kiến nghị không nên chỉ dừng ở câu hỏi có cấm hay không, mà cần làm rõ đối tượng áp dụng, mốc thời gian, trách nhiệm thực hiện, cơ chế kiểm tra và xử lý vi phạm, cùng các giải pháp hỗ trợ người đang hút thuốc. Đây là những căn cứ cần thiết để đánh giá cả tính hợp pháp lẫn khả năng đạt mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
![]() |
Các kiến nghị của TS.BS Nguyễn Trung Nguyên, Bệnh viện Bạch Mai và Hội Hồi sức cấp cứu và Chống độc Việt Nam đặt ra một câu hỏi cần được trả lời thỏa đáng: dự thảo luật đã dành đủ trọng tâm cho việc ngăn người trẻ bắt đầu hút thuốc hay chưa?
Không có quy định đơn lẻ nào thay thế được giáo dục, kiểm soát thị trường và hỗ trợ cai nghiện. Nhưng trước nguy cơ lệ thuộc nicotine cùng những hậu quả sức khỏe, kinh tế kéo dài, phòng ngừa từ khi thói quen chưa hình thành cần được cân nhắc nghiêm túc. Một đạo luật hướng tới giảm tác hại thuốc lá cần đồng thời hỗ trợ người đang hút bỏ thuốc và xem xét những giải pháp khả thi để thế hệ tiếp theo không bắt đầu hút thuốc.




