Hội CCB Trung ương Hội NCT Việt Nam tổ chức thành công Đại hội nhiệm kỳ 2025–2030
Vấn đề hôm nay 31/12/2025 18:06
![]() |
| Người cao tuổi được biểu dương tại Hội nghị toàn quốc biểu dương người cao tuổi làm kinh tế giỏi lần thứ IV, giai đoạn 2018 – 2023. Ảnh Hội NCT Việt Nam |
Già hóa dân số: Thách thức hay biến số phát triển?
Nhờ những thành tựu y học, tiến bộ của khoa học công nghệ và điều kiện sống được tăng cao, cùng với đó mức sinh ngày càng giảm sâu đã và đang làm thay đổi căn bản cấu trúc dân số, từ đó tác động đến mọi mặt đời sống, kinh tế, xã hội. Già hóa dân số bởi vậy là một xu thế tất yếu đang diễn ra không chỉ tại Việt Nam mà trên phạm vi toàn cầu. Liên hợp quốc dự báo, đến năm 2050, thế giới sẽ có khoảng 2,1 tỷ người từ 60 tuổi trở lên, chiếm hơn 20% tổng dân số toàn cầu. Nhiều nước trên thế giới sẽ bước vào giai đoạn “xã hội siêu già” khi người từ 65 tuổi chiếm tỷ lệ trên 30% dân số.
Theo các dự báo chính thức, Việt Nam bước vào quá trình già hóa dân số từ năm 2011, là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Theo cơ sở dữ liệu dân cư của Bộ Công an (7/3/2023), cả nước có gần 17 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng gần 17% dân số; dự báo đến năm 2036, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên sẽ chiếm khoảng 20% dân số và Việt Nam sẽ chuyển sang giai đoạn dân số “già”. Báo cáo dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2019 – 2069 của Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) cho thấy, đến năm 2036, Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ dân số “già”, chuyển từ xã hội “già hóa” sang xã hội “già”, khi tỉ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên đạt 14,2%. Thời kỳ dân số già sẽ kéo dài 20 năm từ 2036 đến 2055. Sau đó, từ 2056 đến 2069, Việt Nam có cơ cấu dân số siêu già, tương ứng với tỉ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm trên 21%.
Chỉ trong một thời gian ngắn, cơ cấu dân số nước ta chuyển từ thời kỳ cơ cấu dân số vàng sang xã hội “già hóa” và tiến nhanh tới ngưỡng “xã hội già”, kéo theo những thay đổi lớn về quy mô và chất lượng lực lượng lao động, nhu cầu an sinh xã hội, y tế, chăm sóc dài hạn và phân bổ nguồn lực phát triển. Đây là những thách thức đã được nhận diện trong các Văn kiện của Đảng và nhiều chiến lược phát triển quốc gia. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Xu hướng già hóa dân số nhanh” là một trong những thách thức lớn mà Việt Nam phải giải quyết và trong thời gian tới cần “chuẩn bị điều kiện thích ứng với già hóa dân số”.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn già hóa dân số như một vấn đề xã hội hoặc gánh nặng an sinh, cách tiếp cận đó sẽ bộc lộ những giới hạn chiến lược. Bởi lẽ, già hóa không chỉ làm gia tăng nhu cầu chi tiêu cho an sinh và chăm sóc, mà còn làm thay đổi căn bản cấu trúc tiêu dùng, thị trường lao động, mô hình sản xuất và cách thức tổ chức nền kinh tế. Ở góc độ này, già hóa cần được nhìn nhận như một biến số phát triển, có khả năng tái định hình mô hình tăng trưởng nếu được tiếp cận bằng tư duy chiến lược.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về người cao tuổi luôn nhìn nhận người cao tuổi như một lực lượng xã hội có trí tuệ, kinh nghiệm và giá trị đóng góp to lớn, quan trọng và bền vững cho quốc gia. Người khẳng định: “Người cao tuổi là của quý vô giá của dân tộc, của nước nhà”. Tư tưởng ấy không chỉ thể hiện sự trân trọng về phương diện đạo lý, mà còn hàm chứa quan điểm sâu sắc về việc phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và nguồn lực xã hội của người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hiến pháp nước ta cũng đã thể chế hóa vai trò và quyền của người cao tuổi, khẳng định trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, xã hội trong việc tôn trọng, bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi. Hiến pháp 2013 đã Hiến định: “Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Khoản 3 Điều 37).
Trên nền tảng đó, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định người cao tuổi là nguồn lực xã hội quan trọng, cần được tôn trọng, chăm sóc và phát huy trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng, và gia đình… Kính trọng, bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi. Bảo trợ giúp đỡ người cao tuổi gặp khó khăn, cô đơn không nơi nương tựa”. Đây không chỉ là định hướng về an sinh, mà quan trọng hơn là sự khẳng định vai trò, vị thế và giá trị đóng góp của người cao tuổi trong tiến trình phát triển đất nước, nhất là trong bối cảnh già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng.
Dù vậy, nếu nhìn nhận ở thực tiễn chính sách thì người cao tuổi vẫn chủ yếu được tiếp cận trong khung an sinh, trợ giúp, trong khi vai trò kinh tế và khả năng đóng góp của họ chưa được tích hợp đầy đủ, chưa được thể hiện rõ nét vào chiến lược phát triển quốc gia.
Nếu già hóa vẫn thường được nhìn nhận như một “gánh nặng”, thì ở nhiều quốc gia, già hóa chính là một trong những động lực thúc đẩy tái cấu trúc mô hình tăng trưởng. Điển hình như tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp, Đức đã sớm hình thành và phát triển kinh tế bạc để ứng phó và thích ứng chủ động với già hóa dân số. Thay vì chỉ tập trung vào trợ cấp và chăm sóc, họ coi sự gia tăng dân số cao tuổi là cơ sở để hình thành các ngành, lĩnh vực và thị trường mới gắn với nhu cầu, khả năng và vai trò của người cao tuổi. Trong cách tiếp cận đó, già hóa dân số không còn thuần túy là thách thức, mà trở thành động lực thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế.
Chẳng hạn như Nhật Bản, số người từ 75 tuổi trở lên được dự báo sẽ lên tới 22,58 triệu vào năm 2030, chiếm khoảng 20% tổng dân số. Trước thách thức một “xã hội siêu già”, Nhật Bản đã chuyển hướng, coi người cao tuổi là tài sản phát triển, vừa là lực lượng tiêu dùng mới, vừa là nguồn lực lao động giàu kinh nghiệm nếu được tổ chức công việc linh hoạt (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD, 2019). Về thể chế, nổi bật nhất là bảo hiểm chăm sóc dài hạn, một cơ chế tài chính kết hợp giữa ngân sách nhà nước với đóng góp bảo hiểm và đồng chi trả của hộ gia đình, chi trả cho danh mục dịch vụ đa dạng như chăm sóc tại nhà, chăm sóc ban ngày,…; Về lao động, Nhật Bản duy trì cơ chế tái tuyển dụng sau tuổi nghỉ hưu một cách linh hoạt và phù hợp với người cao tuổi; Về sản phẩm dịch vụ, tập trung phát triển các thiết bị thông minh hỗ trợ người cao tuổi, thiết kế công nghệ nhà thông minh, robot hỗ trợ và môi trường sống thân thiện; đồng thời chương trình giáo dục suốt đời, du lịch, văn hóa được thiết kế riêng và phù hợp giúp người cao tuổi tiếp cận kiến thức mới và tham gia tích cực vào đời sống, xã hội.
Đặt trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, vấn đề cốt lõi của chúng ta không nằm ở việc già hóa dân số có xảy ra hay không, mà chính là nằm ở chỗ nền kinh tế và hệ thống chính sách đã sẵn sàng thích ứng đến đâu. Khi tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh hơn tốc độ điều chỉnh của thể chế và chính sách phát triển, những áp lực về lao động, năng suất và an sinh sẽ gia tăng. Ngược lại, nếu già hóa dân số được sớm tích hợp vào tư duy phát triển quốc gia, đây có thể trở thành một không gian tăng trưởng mới, góp phần bù đắp sự suy giảm của lực lượng lao động trẻ và mở rộng các động lực tăng trưởng trong trung và dài hạn.
Thực tiễn hiện nay, khái niệm kinh tế bạc nổi lên như một hướng tiếp cận mới, coi người cao tuổi không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách, mà còn là một chủ thể kinh tế gắn với cả cung và cầu của thị trường. Việc nhận diện già hóa dân số như một biến số phát triển, thay vì chỉ là bài toán an sinh, là tiền đề quan trọng để kinh tế bạc có thể được đặt đúng vị trí trong tư duy thể chế và chiến lược phát triển quốc gia.
| Kinh tế bạc (silver economy) là khái niệm được hình thành trong bối cảnh dân số thế giới đang già hóa nhanh, xuất hiện từ những năm 1970 tại Nhật Bản. Kinh tế bạc là toàn bộ các hoạt động kinh tế, sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi. Đồng thời, khai thác và phát huy những đóng góp kinh tế - xã hội từ người cao tuổi. Người cao tuổi không chỉ là đối tượng thụ hưởng dịch vụ an sinh, mà còn là chủ thể tiêu dùng, tham gia sản xuất và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội. |
![]() |
| Mô hình nuôi cá lồng cho thu nhập cao của gia đình ông Hoàng Văn Phong (người cầm vợt) ở Lạng Sơn. Ảnh: Thanh Hà |
Khoảng trống chính sách trước “xã hội siêu già hóa”, “xã hội siêu kinh nghiệm”
Cùng với quá trình già hóa dân số, có thể thấy rằng nhu cầu của người cao tuổi tại Việt Nam đã và đang mở rộng nhanh chóng, vượt xa khuôn khổ chăm sóc cơ bản. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe dài hạn, phục hồi chức năng, dịch vụ chăm sóc tại nhà và cộng đồng ngày càng gia tăng; cùng với đó là nhu cầu tinh thần như đi du lịch nghỉ dưỡng, văn hóa, giáo dục, tài chính, bảo hiểm và các giải pháp công nghệ hỗ trợ sống độc lập. Đây là những lĩnh vực có tiềm năng thị trường rất lớn và có xu hướng tăng trưởng dài hạn, gắn trực tiếp với cấu trúc dân số đang thay đổi theo hướng già hóa.
Trong những năm gần đây, khái niệm kinh tế bạc đã bắt đầu xuất hiện trong một số văn bản, hội thảo và diễn đàn chính sách ở Việt Nam. Già hóa dân số không còn là một hiện tượng xa lạ, và vai trò của người cao tuổi cũng đã được nhấn mạnh nhiều hơn trong các nghị quyết, chiến lược và chương trình hành động liên quan đến an sinh xã hội, y tế và dân số. Tuy nhiên, trên thực tế, kinh tế bạc vẫn chủ yếu tồn tại như một khái niệm mang tính nhận thức, hơn là một cấu phần được kiến tạo có chủ đích trong chiến lược phát triển quốc gia.
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở chỗ, tư duy chính sách vẫn tiếp cận người cao tuổi chủ yếu từ góc độ “đối tượng cần chăm sóc”, thay vì “nguồn lực cần phát huy”. Phần lớn các chính sách liên quan đến già hóa dân số vẫn xoay quanh trợ cấp xã hội, chăm sóc y tế, bảo hiểm và phúc lợi, trong khi những khía cạnh mang tính phát triển, như kéo dài thời gian tham gia thị trường lao động, khai thác kinh nghiệm và tri thức của người cao tuổi, hay phát triển các ngành kinh tế gắn với nhu cầu tiêu dùng và dịch vụ cho nhóm dân số này vẫn chưa đặt đúng tầm.
Kinh tế bạc không chỉ là câu chuyện của tiêu dùng hay dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, mà là một hệ sinh thái kinh tế rộng lớn, bao gồm lao động, sản xuất, tiêu dùng, đổi mới sáng tạo và tổ chức xã hội. Khi tuổi thọ tăng lên và sức khỏe người cao tuổi được cải thiện, ranh giới giữa “độ tuổi lao động” và “ngoài độ tuổi lao động” ngày càng trở nên linh hoạt. Tuy nhiên, khung pháp lý và chính sách hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa theo kịp sự thay đổi này, khiến một bộ phận người cao tuổi có khả năng lao động và cống hiến đang đứng ngoài dòng chảy phát triển. Dù Bộ Luật Lao động năm 2019, đã có quy định về gia hạn hợp đồng cho người lao động đến tuổi nghỉ hưu, nhưng chưa có chính sách khuyến khích mạnh mẽ để doanh nghiệp tiếp tục sử dụng và tái bố trí công việc phù hợp cho người cao tuổi. Báo cáo triển vọng việc làm OECD (2025) cũng cho thấy, các doanh nghiệp thiếu cơ chế đánh giá năng lực thực tế của lao động lớn tuổi, từ đó duy trì cách tiếp cận bảo thủ, thiên lệch theo độ tuổi, thay vì năng lực. Việc ra soát lại các quy định pháp luật liên quan đến người cao tuổi, trong đó có vấn đề liên quan đến lao động, việc làm, để qua đó khắc phục những tồn tại, đồng thời nhằm đảm bảo sự đồng bộ và khả thi, góp phần thúc đẩy người cao tuổi vượt qua các rào cản, tâm lý xã hội và phát huy trí tuệ, kinh nghiệm để đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội một cách phù hợp.
Trên thực tế, một bộ phận không nhỏ người cao tuổi ở nước ta hiện vẫn tham gia lao động, sản xuất, kinh doanh, truyền tri thức, kinh nghiệm, cố vấn, sáng tạo nghệ thuật, khởi nghiệp, thậm chí là trụ cột trong các hoạt động kinh tế hộ gia đình, doanh nghiệp và hoạt động xã hội. Thống kê của Hội Người cao tuổi Việt Nam cho thấy, hiện có hơn 9 triệu người cao tuổi nước ta đang tích cực tham gia lao động, sản xuất, kinh doanh, trong đó hơn 400.000 người cao tuổi đạt danh hiệu làm kinh tế giỏi,… nhiều người cao tuổi đã được Đảng, Nhà nước vinh danh là Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới; Gần 1 triệu người cao tuổi đang tham gia công tác trong các tổ chức ở thôn bản, tổ dân phố; hơn 3 triệu lượt người cao tuổi tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc,… Đến nay, Hội Người cao tuổi các cấp đã xây dựng được trên 9000 Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau.
![]() |
| Năm 2020, tại Đại hội Thi đua Yêu nước toàn quốc lần thứ X, ông Trần Mạnh Báo (Thái Bình) được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kì đổi mới. Năm nay bước sang tuổi 75, Anh hùng Lao động Trần Mạnh Báo đã gắn bó với nông nghiệp và giống cây trồng gần 50 năm. Ảnh: Thanh Hà |
Theo báo cáo của Diễn đàn sinh kế và khởi nghiệp đối với người cao tuổi năm 2020, khoảng 70% người cao tuổi ở Việt Nam sống tại khu vực nông thôn là nông dân và làm nông nghiệp. Do vậy, nếu không kịp thời hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù để khuyến khích người cao tuổi tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn thì chúng ta sẽ đối diện nguy cơ bỏ lỡ một nguồn lực rất lớn để phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp.
![]() |
| Ông Nguyễn Hồng Lam (ngoài cùng bên trái), Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Quế Lâm chia sẻ kinh nghiệm về nông nghiệp hữu cơ. Ảnh: Thanh Hà |
Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, góp ý Dự thảo Luật Dân số, đại biểu Trương Xuân Cừ (Đoàn TP. Hà Nội) cũng khẳng định, người cao tuổi là một nguồn lực gắn liền với sự hình thành, phát triển kinh tế bạc. Đại biểu cho rằng, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và y tế chuyên biệt cho người cao tuổi là lĩnh vực trọng tâm và có tiềm năng phát triển mạnh mẽ, tổng nguồn lực đầu tư cho dịch vụ này đến năm 2030 ước tính đạt khoảng 566 nghìn tỷ đồng. Đại biểu Trương Xuân Cừ nhấn mạnh, trong kỷ nguyên mới, yêu cầu phát triển đất nước bền vững, hiện đại, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc, đòi hỏi phải huy động sức mạnh tổng hợp, trong đó có nguồn lực kinh tế bạc do người cao tuổi là chủ thể và cũng là đối tượng liên quan.
Phải khẳng định rằng, Việt Nam có nguồn lực, có nhu cầu, đồng thời đã có những mô hình ban đầu về kinh tế bạc, như cơ sở chăm sóc người cao tuổi, dịch vụ y tế về phục hồi chức năng, đến các mô hình chăm sóc cộng đồng, Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau, hay như các sáng kiến công nghệ hỗ trợ người cao tuổi, cho đến các mô hình kinh tế có sự tham gia của người cao tuổi… Cho thấy, thị trường kinh tế bạc ở Việt Nam không phải là một khoảng trống hoàn toàn. Tuy vậy, xét về tổng thể điểm chung của các mô hình này là quy mô còn khá nhỏ, phát triển còn rời rạc, phụ thuộc ít nhiều vào nguồn lực xã hội hóa, sự tâm huyết và nhiệt tình của các tổ chức, cá nhân hơn là dựa trên một hệ sinh thái thị trường được kiến tạo bài bản, chuyên nghiệp.
Khoảng trống thể chế thể hiện rõ ở việc Việt Nam chưa có một chiến lược quốc gia về kinh tế bạc với mục tiêu, lộ trình và công cụ chính sách cụ thể. Ngay như trong chính Luật Người cao tuổi (2009) cũng chưa trực tiếp đề cập đến kinh tế bạc như một khái niệm hay chính sách phát triển. Các nội dung liên quan đến người cao tuổi hiện vẫn đang phân tán ở nhiều luật, nghị định và chương trình khác nhau, từ Luật Người cao tuổi, chính sách việc làm, bảo hiểm xã hội đến y tế, giáo dục và khoa học – công nghệ. Sự phân mảnh này khiến kinh tế bạc chưa được nhìn nhận như một chỉnh thể phát triển, mà mới dừng lại ở các chính sách đơn lẻ, thiếu tính kết nối và dẫn dắt.
So sánh với kinh nghiệm quốc tế, sự chậm trễ này đồng nghĩa với việc Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bỏ lỡ một không gian tăng trưởng mới đang hình thành. Nhiều quốc gia đã chủ động thiết kế chính sách để biến già hóa dân số thành động lực thúc đẩy các ngành công nghiệp mới, từ dịch vụ chăm sóc thông minh, công nghệ y sinh, nhà ở thích ứng, đô thị thông minh, du lịch cho người cao tuổi đến các mô hình lao động linh hoạt và khởi nghiệp ở người cao tuổi. Ở đó, người cao tuổi vừa là lực lượng tiêu dùng lớn, vừa là chủ thể tham gia sản xuất, đổi mới và trao truyền tri thức, trí tuệ, kinh nghiệm.
Nhìn nhận tại Việt Nam hiện nay có thể thấy, kinh tế bạc ở nước ta vẫn chưa được tích hợp một cách có hệ thống vào các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trung và dài hạn. Việc thiếu vắng một khung thể chế đủ mạnh không chỉ làm chậm quá trình thích ứng với già hóa dân số, mà còn khiến nền kinh tế đối mặt với nguy cơ suy giảm động lực tăng trưởng khi lợi thế dân số vàng dần khép lại. Nếu không có sự chuyển dịch kịp thời từ tư duy an sinh sang tư duy phát triển, già hóa dân số rất dễ bị nhìn nhận như một gánh nặng kéo dài, thay vì một nguồn lực có thể kịch hoạt, khai mở.
![]() |
| Hội thảo khoa học “Kinh tế bạc ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới”, được tổ chức vào ngày 15/11/2025, tại Hà Nội |
Nhận diện thực trạng già hóa dân số và kinh tế bạc hiện nay ở Việt Nam, các chuyên gia tham gia Hội thảo khoa học “Kinh tế bạc ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới”, được tổ chức vào ngày 15/11/2025, tại Hà Nội, đánh giá Việt Nam đang đứng trước một cơ hội và tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế bạc. Đồng thời, nhận định chính sách hiện nay vẫn thiên về an sinh, và thiếu cơ chế, chính sách cũng như chiến lược mang tầm quốc gia về phát triển kinh tế bạc.
GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính Trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương nhận định: “Người cao tuổi không phải là “gánh nặng” mà là nguồn lực chiến lược. Họ mang trong mình kho tàng kinh nghiệm công tác, văn hóa, đạo đức và các phẩm hạnh khác để giúp vượt qua khỏi các biến động toàn cầu, suy thoái kinh tế hậu đại dịch để vững bước đi vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc”.
GS.TS Nguyễn Xuân Thắng cho rằng: “Phát triển kinh tế bạc không chỉ là chăm sóc người cao tuổi – mà kiến tạo một mô hình xã hội nhân văn, văn minh, biến thách thức nhân khẩu học thành động lực phát triển mới. Các chính sách được xây dựng cần phải dựa trên khuyến khích, tôn trọng tự do lựa chọn và phát huy trí tuệ, kinh nghiệm của người cao tuổi”.
![]() |
| GS.TS Nguyễn Xuân Thắng nhận định: Người cao tuổi không phải là “gánh nặng” mà là nguồn lực chiến lược |
Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến cũng nhấn mạnh, nhu cầu ngày càng gia tăng của người cao tuổi về y tế, dinh dưỡng, thể thao, du lịch, bảo hiểm và công nghệ thông minh đang mở ra một thị trường rộng lớn, giàu tiềm năng. Hơn thế, người cao tuổi không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn tiếp tục là chủ thế đóng góp: họ tham gia hỗ trợ gia đình, truyền thụ tri thức, kinh nghiệm, hiến kế cho cộng đồng, thậm chí là tham gia sản xuất và khởi nghiệp. Ông Chiến cũng khẳng định: “Đây chính là cơ sở để Việt Nam biến thách thức già hóa dân số thành nguồn lực phát triển mới trong giai đoạn tới”.
Theo Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội, đòi hỏi cấp thiết hiện nay là Đảng, Nhà nước và toàn hệ thống chính trị phải ban hành và tổ chức thực thi một hệ thống chính sách đồng bộ về an sinh xã hội, y tế, thị trường lao động, khởi nghiệp và dịch vụ thân thiện với người cao tuổi, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho toàn xã hội, đồng thời phát huy tối đa tiềm năng của nhóm dân số ngày càng gia tăng này.
“Phát triển kinh tế bạc không chỉ là một giải pháp ứng phó với xu thế già hóa, mà trước hết và trên hết, đó là một chiến lược phát triển bền vững, nhân văn và bao trùm. Đây chính là con đường để chúng ta chuyển hóa thách thức thành cơ hội, tạo nên một động lực tăng trưởng mới, gắn kết chặt chẽ với mục tiêu công bằng, an sinh và hạnh phúc của toàn dân tộc”, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến phân tích, đồng thời khuyến nghị, cần nâng cao nhận thức xã hội về người cao tuổi, theo hướng cần chuyển mạnh từ tư duy “trợ giúp” sang tư duy “phát huy”.
![]() |
| Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan: Chúng ta không chỉ có một “xã hội siêu già hóa”, mà có một “xã hội siêu kinh nghiệm” |
Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan cũng cho rằng, già hóa dân số mở ra nguồn lực xã hội khổng lồ, một thế hệ “vàng” về kinh nghiệm sản xuất, quản trị, tri thức nghề nghiệp, có thể kích hoạt “kho báu tri thức” với hàng chục triệu người có kinh nghiệm sản xuất, quản lý, sáng tạo văn hóa – xã hội. Ông khẳng định, đấy chính là cơ sở để hình thành và phát triển kinh tế bạc.
“Một xã hội hạnh phúc trong thời đại trăm tuổi là xã hội nơi người già không bị bỏ quên, mà luôn được tôn trọng, được khuyến khích tiếp tục đóng góp. Khi ấy, chúng ta không chỉ có một “xã hội siêu già hóa”, mà có một “xã hội siêu kinh nghiệm”, nơi mỗi người đều có giá trị và cơ hội được công hiến suốt đời”, Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan khẳng định. Ông cũng kiến nghị cần xây dựng chiến lược quốc gia về kinh tế bạc, đưa chiến lược này vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và chương trình hành động về dân số, ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn cho sản phẩm và dịch vụ thân thiện với người cao tuổi, đồng thời đặt mục tiêu cụ thể về tỷ trọng đóng góp của kinh tế bạc.
Có thế thấy, từ thực tiễn, chính sách và tư duy hiện nay, vấn đề đặt ra lúc này không còn là có hay không phát triển kinh tế bạc, mà là phát triển như thế nào và ở tầm nào. Khi kinh tế bạc chưa được coi là một cấu phần trong mô hình tăng trưởng, những cơ hội về thị trường, lao động và đổi mới sáng tạo gắn với người cao tuổi sẽ tiếp tục bị bỏ ngỏ. Đây chính là khoảng trống chiến lược cần được lấp đầy nếu Việt Nam muốn chủ động thích ứng với già hóa dân số và bảo đảm phát triển bền vững trong những thập niên tới.
![]() |
| Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam Nguyễn Thanh Bình: Trọng tâm cần làm là hoàn thiện khung pháp lý, chuẩn hóa chất lượng dịch vụ, phát triển hạ tầng số và nguồn nhân lực, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cao tuổi |
Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam, Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam, phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam cần được đặt trong tổng thể phát triển đồng bộ, hài hòa giữa văn hóa với chính trị, kinh tế và xã hội, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo và quản trị pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dẫn dắt bằng thể chế, tiêu chuẩn, quy chuẩn, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cao tuổi, đồng thời đề cao trách nhiệm giải trình của các chủ thể tham gia.
Cũng theo ông Bình, kinh tế bạc không chỉ là một lĩnh vực kinh tế mới mẻ mà còn là biểu hiện sinh động của tư duy phát triển con người toàn diện, là nội dung cụ thể hóa quan điểm “phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau” mà Đảng ta nhiều lần nhấn mạnh. Ông khẳng định: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản trị kiến tạo của Nhà nước và sự đồng thuận của toàn xã hội, phát triển kinh tế bạc sẽ góp phần quan trọng hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về người cao tuổi Việt Nam, đóng góp tích cực vào tăng trưởng bền vững, củng cố an sinh xã hội và phát triển giá trị văn hóa – con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới”.
Ông Nguyễn Thanh Bình cho rằng, trọng tâm cần làm là hoàn thiện khung pháp lý, chuẩn hóa chất lượng dịch vụ, phát triển hạ tầng số và nguồn nhân lực, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cao tuổi, đồng thời khuyến khích người cao tuổi tham gia thị trường lao động phù hợp năng lực.
Để kinh tế bạc trở thành động lực tăng trưởng mới
Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ, già hóa dân số là một xu thế dài hạn gắn với toàn bộ quỹ đạo phát triển của đất nước trong nhiều thập kỷ tới. Trong bối cảnh đó, kinh tế bạc không thể chỉ được nhìn nhận như một hợp phần phụ trợ của chính sách an sinh, mà cần được đặt đúng vị trí trong tư duy phát triển quốc gia. Điều này đòi hỏi một sự điều chỉnh căn bản về cách tiếp cận, từ quản lý “hệ quả” của già hóa sang chủ động “kiến tạo động lực tăng trưởng” trong xã hội già hóa.
Trước hết, kinh tế bạc cần được xác lập như một cấu phần chính thức trong mô hình tăng trưởng và các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trung và dài hạn. Việc đưa kinh tế bạc vào các văn kiện, nghị quyết tầm quốc gia, không chỉ mang ý nghĩa định hướng chiến lược lâu dài, định hướng về tư tưởng mà còn tạo ra cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc để tổ chức, điều phối nguồn lực, hoàn thiện thể chế và dẫn dắt thị trường. Khi già hóa dân số đã được nhận diện là một thách thức chiến lược, thì kinh tế bạc phải được coi là một trong những giải pháp chiến lược, chứ không thể chỉ dừng ở các chương trình mang tính thử nghiệm hoặc manh mún.
Từ góc độ thể chế, vấn đề then chốt là chuyển trọng tâm chính sách từ “bảo đảm” cho người cao tuổi, sang “phát huy” người cao tuổi. Điều này, không có nghĩa là chúng ta xem nhẹ vấn đề an sinh xã hội, mà là mở rộng khung chính sách để người cao tuổi có điều kiện tiếp tục tham gia vào đời sống kinh tế - xã hội phù hợp với sức khỏe, trình độ và nhu cầu. Việc thiết kế các cơ chế lao động linh hoạt, học tập suốt đời, khởi nghiệp ở độ tuổi trung và cao tuổi, cũng như tạo hành lang pháp lý cho các mô hình kinh tế gắn với người cao tuổi, là những nội dung cần được tiếp cận ở tầm chiến lược, thay vì xử lý như các giải pháp đơn lẻ.
Cùng với đó, kinh tế bạc cũng đòi hỏi một cách tiếp cận mới đối với thị trường và khu vực tư nhân. Khi quy mô và nhu cầu của nhóm dân số cao tuổi ngày càng gia tăng, đây không chỉ là một không gian của phúc lợi xã hội, mà còn là một thị trường tiềm năng cho đổi mới sáng tạo, dịch vụ chất lượng cao và các ngành kinh tế mới. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, thông qua việc hoàn thiện khung pháp lý, định hướng tiêu chuẩn và khuyến khích đầu tư, để khu vực tư nhân trở thành lực lượng chủ đạo trong phát triển các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh của kinh tế bạc.
Quan trọng hơn, việc khẳng định chủ trương phát triển kinh tế bạc ở tầm quốc gia còn mang ý nghĩa tái khẳng định quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm trong điều kiện xã hội già hóa. Người cao tuổi sau bao nhiêu năm cống hiến, đóng góp cho sự phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc, giờ họ về già không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển, mà còn là một phần của động lực phát triển đó. Khi tư duy này được thể chế hóa, già hóa dân số sẽ không còn bị nhìn nhận như một lực cản, mà trở thành một yếu tố thúc đẩy sự điều chỉnh mô hình tăng trưởng theo hướng bao trùm, bền vững và thích ứng hơn với các biến đổi nhân khẩu học.
Cuối cùng, thách thức lớn nhất không nằm ở việc thiếu khái niệm hay thiếu nhận thức, thiếu mô hình, mà ở tốc độ và quyết tâm chuyển hóa tư duy thành hành động chính sách. Khoảng trống thể chế đối với kinh tế bạc, nếu không sớm được lấp đầy, sẽ khiến Việt Nam chậm nhịp phát triển trong bối cảnh già hóa dân số. Ngược lại, nếu kinh tế bạc được đặt đúng tầm trong các văn kiện, nghị quyết tầm quốc gia và chiến lược phát triển quốc gia về kinh tế bạc thì đây có thể trở thành một trụ cột mới, góp phần vào sự tăng trưởng và bảo đảm ổn định xã hội trong trung và dài hạn.
Tựu chung lại, khi lợi thế dân số vàng dần khép lại, cách thức nền kinh tế thích ứng với sự thay đổi cấu trúc dân số sẽ quyết định không chỉ tốc độ tăng trưởng, mà còn chất lượng và tính bền vững của phát triển trong dài hạn. Trong bối cảnh đó, kinh tế bạc không đơn thuần là một lĩnh vực mới, mà là thước đo cho khả năng chuyển hóa thách thức nhân khẩu học thành động lực tăng trưởng.
Nếu già hóa dân số tiếp tục được nhìn nhận chủ yếu như một bài toán an sinh, nền kinh tế sẽ phải gánh chịu áp lực ngày càng lớn về ngân sách, lao động và năng suất. Ngược lại, khi người cao tuổi được đặt vào trung tâm của tư duy phát triển, với tư cách là nguồn lực, là chủ thể kinh tế và là một thị trường đang mở rộng, thì già hóa dân số có thể trở thành chất xúc tác cho quá trình tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng bao trùm và thích ứng hơn.
Vấn đề cốt lõi vì thế không nằm ở việc Việt Nam có lựa chọn phát triển kinh tế bạc hay không, mà là lựa chọn ấy được đặt ở tầm nào trong tư duy chiến lược. Khi kinh tế bạc được tích hợp một cách chính thức vào các văn kiện, nghị quyết và chiến lược phát triển quốc gia, khoảng trống thế chế sẽ được lấp đầy bằng định hướng dài hạn, tạo cơ sở để huy động nguồn lực xã hội, dẫn dắt thị trường và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong bối cảnh già hóa dân số.
Một chiến lược kinh tế bạc hiệu quả cần đặt người cao tuổi làm trung tâm, vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là đối tượng tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội phù hợp. Đồng thời, việc phát triển kinh tế bạc phải gắn kết hài hòa với các trụ cột thể chế, tài chính, thị trường, cộng đồng và công nghệ, nơi thế chế hoàn thiện khung pháp lý, thị trường và tài chính tạo cơ chế bền vững, cộng đồng kết nối an sinh với thị trường, và công nghệ mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ cũng như kéo dài thời gian sống độc lập của người cao tuổi. Khi được tổ chức đồng bộ, hệ sinh thái kinh tế bạc vừa đảm bảo an sinh, vừa biến già hóa dân số thành nguồn lực phát triển bền vững. Cũng bởi vậy, mà trong bối cảnh mới hiện nay, việc đẩy mạnh thông tin, truyền thông để góp phần thay đổi nhận thức xã hội, xây dựng hình ảnh người cao tuổi năng động, nhiệt huyết và sẵn sàng cống hiến phù hợp với điều kiện về trình độ, nguyện vọng và sức khỏe vào sự phát triển chung của đất nước, có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc chủ động định hướng và tổ chức phát triển kinh tế bạc không chỉ nhằm thích ứng với già hóa dân số, mà còn mở ra một động lực tăng trưởng mới, bền vững, bao trùm và dài hạn cho nền kinh tế. Khi người cao tuổi được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển, chứ không chỉ là đối tượng thụ hưởng, đó cũng chính là thước đo cho năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
| Người cao tuổi Việt Nam trong mọi thời đại lịch sử luôn xứng danh là rường cột quốc gia, xả thân vì xã tắc, là ngọn đuốc bất diệt thắp sáng tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường, trường tồn dân tộc; Đất nước ta có được cơ đồ vẻ vang, có vị thế và uy tín quốc tế cao như ngày nay, không thể không nói đến sự đóng góp quan trọng của lớp người cao tuổi Việt Nam; Trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay, người cao tuổi Việt Nam tiếp tục khẳng định là chỗ dựa vững chắc, giữ cho nước nhà ổn định, hòa bình để phát triển bền vững và tiến cùng thời đại. Tổng Bí thư Tô Lâm |