Nguy cơ xung đột pháp luật…
Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà (đoàn Hà Nội) cho biết, Điểm b Khoản 1 Điều 4 và Khoản 1 Điều 59 dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) cho phép Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam phê duyệt sử dụng vốn của Tập đoàn và doanh nghiệp 100% vốn của Tập đoàn “không phụ thuộc vào mức vốn góp” khi thực hiện quyền tham gia hợp đồng hoặc hoạt động dầu khí.
Khoản 2 và Khoản 3 Điều 60 dự thảo Luật quy định chi phí đầu tư thất bại tại các dự án dầu khí “được bù đắp từ nguồn lợi nhuận sau thuế hằng năm của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam” trước khi trích lập các quỹ theo quy định của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
![]() |
| Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu về dự án luật Dầu khí (sửa đổi). |
Theo đại biểu, các quy định này xung đột trực tiếp với các nguyên tắc cốt lõi của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp 2025 vì những lý do sau:
Theo Khoản 3 Điều 20 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp 2025, Hội đồng thành viên chỉ được tự quyết định từng dự án đầu tư hoặc khoản đầu tư có mức vốn không quá 50% vốn chủ sở hữu và không vượt quá mức cụ thể theo quy định của Chính phủ; trường hợp vượt quá mức này bắt buộc phải báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, phê duyệt. Việc dự thảo cho phép tự phê duyệt sử dụng vốn “không phụ thuộc vào mức vốn góp” là vượt thẩm quyền, vô hiệu hóa hoàn toàn vai trò giám sát, kiểm tra của cơ quan đại diện chủ sở hữu quy định tại Điều 47 của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp 2025.
Bên cạnh đó, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cho biết, cũng theo Điểm b Khoản 1 Điều 25 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp 2025, chi phí đầu tư thất bại chỉ được xử lý từ nguồn lợi nhuận sau thuế “theo quy định của Chính phủ”. Vì vậy, việc dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) cho phép Hội đồng thành viên Tập đoàn tự quyết toán và bù đắp các chi phí thất bại từ lợi nhuận sau thuế trước khi trích lập các quỹ sẽ tạo ra kẽ hở pháp lý lớn để hợp thức hóa các khoản thua lỗ đầu tư, vi phạm nghĩa vụ bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại Điều 26 của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp 2025.
Để hoá giải các xung đột pháp luật này, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà kiến nghị sửa cụm từ “không phụ thuộc vào mức vốn góp” (tại Điểm b Khoản 1 Điều 4 và Khoản 1 Điều 59) thành: phù hợp với quy định về thẩm quyền quyết định đầu tư tại pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, sửa đổi quy trình xử lý chi phí đầu tư thất bại (tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 60) thành: được xử lý theo quy định của Chính phủ về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Xử lý xung đột pháp luật về trình tự, thủ tục chấp thuận…
Theo đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Khoản 3 Điều 18 dự thảo Luật quy định: “Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thay thế việc chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án dầu khí (nếu có) theo quy định của pháp luật liên quan”; Khoản 4 Điều 18 dự thảo Luật quy định tương tự đối với Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư điều chỉnh.
Đại biểu cho rằng, quy định này cũng mâu thuẫn trực tiếp với Luật Đầu tư 2025.
Theo Điều 24 Luật Đầu tư 2025, các dự án có quy mô lớn hoặc tác động sâu sắc đến tài nguyên rừng, đất đai, an ninh quốc phòng bắt buộc phải thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư (như dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng từ 50 ha trở lên, đất lúa nước từ 500 ha trở lên, dự án sử dụng khu vực biển, dự án chế biến dầu khí...). Khoản 1 Điều 29 Luật Đầu tư 2025 nêu rõ: “Đối với dự án đầu tư thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, việc chấp thuận chủ trương đầu tư phải được thực hiện trước khi nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư”.
Dù Điểm d Khoản 3 Điều 4 Luật Đầu tư 2025 có loại trừ một số thủ tục đầu tư kinh doanh đặc thù theo Luật Dầu khí, nhưng việc dự thảo Luật Dầu khí quy định Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư “thay thế” hoàn toàn việc chấp thuận chủ trương đầu tư đối với tất cả các dự án dầu khí (gồm cả chế biến dầu khí hay dự án lấn biển, sử dụng rừng quy mô lớn) là bỏ qua vai trò kiểm soát vĩ mô tối cao của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, phá vỡ tính thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật đầu tư.
Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà kiến nghị sửa đổi đoạn cuối Khoản 3 Điều 18 thành: Việc chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án dầu khí thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư, đồng thời sửa đổi đoạn cuối Khoản 4 Điều 18 thành: Việc chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với dự án dầu khí thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư.
![]() |
| Đại biểu Tạ Đình Thi: Đưa Luật Dầu khí (sửa đổi) trở thành một công cụ pháp lý sắc bén, vừa khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế biển Việt Nam. |
Theo đại biểu Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đã có nhiều tiến bộ, đặc biệt là việc phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục và lần đầu tiên đưa các quy định khung về hoạt động Thu giữ và Lưu trữ Carbon (CCS), dịch vụ kỹ thuật công nghệ cao và năng lượng ngoài khơi.
Tuy nhiên, từ góc nhìn thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ ba khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (Nghị quyết số 20-NQ/TW), đại biểu nhận định dự thảo Luật vẫn còn một số khoảng trống cần được bổ sung và hoàn thiện.
Lợi thế lớn của Việt Nam là hệ thống hạ tầng dầu khí đồ sộ ngoài khơi, bao gồm các giàn khoan, đường ống và các mỏ đã cạn kiệt có tiềm năng trở thành các trạm quan trắc, cơ sở lưu trữ CO₂, cơ sở nuôi biển, điện gió ngoài khơi hoặc trung tâm hỗ trợ hậu cần cho các hoạt động trên biển… đại biểu Tạ Đình Thi đề nghị Luật bổ sung quy định rõ cơ chế dùng chung cơ sở hạ tầng dầu khí hiện hữu cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, bảo vệ môi trường và quốc phòng - an ninh. Ví dụ, cho phép lắp đặt các thiết bị quan trắc môi trường, cảnh báo thiên tai trên các công trình dầu khí, hay sử dụng các mỏ khí cạn kiệt làm bể chứa CO₂ cho các dự án CCS, vừa giải quyết bài toán giảm phát thải, vừa bảo đảm an ninh năng lượng.
Đại biểu Tạ Đình Thi khẳng định, việc bổ sung và hoàn thiện các nội dung trên sẽ giúp thể chế hóa đầy đủ hơn các quan điểm chỉ đạo của Đảng, đưa Luật Dầu khí (sửa đổi) trở thành một công cụ pháp lý sắc bén, vừa khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của Biển Việt Nam, vừa bảo vệ vững chắc chủ quyền và môi trường biển…


