Nhưng chính vì các thách thức đó là tất yếu và không thể đảo ngược, nên câu hỏi đặt ra không phải là “làm sao ngăn già hóa dân số”, mà là “làm sao chuyển hóa nguồn lực khổng lồ đang tích lũy trong gần 17 triệu người cao tuổi thành động lực tăng trưởng, thay vì để nó trở thành gánh nặng thụ động”. Đây là lựa chọn chiến lược, không phải một khẩu hiệu. Khơi thông và phát huy nguồn tài nguyên này thông qua hệ sinh thái “kinh tế bạc” chính là một trong những con đường để đất nước vừa giảm nhẹ áp lực an sinh, vừa tạo ra giá trị kinh tế - xã hội mới.
![]() |
| Đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam phát biểu tại Hội nghị Biểu dương người cao tuổi tiêu biểu toàn quốc trong các phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2016-2026 và lễ kỷ niệm 85 năm Ngày truyền thống người cao tuổi Việt Nam (6/6/1941-6/6/2026). |
Điểm tựa chính trị - pháp lý và bản sắc văn hóa
Đạo lý “kính lão trọng thọ” từ ngàn đời nay đã trở thành chuẩn mực văn hóa thấm sâu trong đời sống người Việt. Đây là nền tảng tinh thần quan trọng, và để chuyển hóa tinh thần này thành chính sách đi vào thực tiễn, Việt Nam đã và đang xây dựng một hành lang thể chế cụ thể: “Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045” - văn kiện lần đầu tiên đưa khái niệm “kinh tế bạc” vào hệ thống chính sách quốc gia; Luật Việc làm năm 2025 (hiệu lực từ 1/1/2026) với các cơ chế hỗ trợ đào tạo nghề và vay vốn khởi nghiệp cho lao động lớn tuổi; cùng Luật Dân số và Luật Phòng bệnh năm 2025 đặt nền tảng cho hệ thống y tế dự phòng.
Về mục tiêu, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt ra các chỉ tiêu hướng tới: Chỉ số HDI đạt khoảng 0,8, tuổi thọ trung bình đạt khoảng 75,5 tuổi, với thời gian sống khỏe mạnh tối thiểu 68 năm. Cần nhấn mạnh đây là những mục tiêu phấn đấu đến 2030 - 2045, chứ chưa phải hiện trạng - điều này quan trọng vì nó cho thấy khoảng cách cần thu hẹp, đồng thời là căn cứ để đo lường hiệu quả chính sách trong những năm tới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng khẳng định: “Một quốc gia biết chăm lo và phát huy người cao tuổi là quốc gia biết trân trọng cội nguồn, biết sử dụng nguồn lực xã hội một cách bền vững”. Phát biểu này không phải là bằng chứng cho luận điểm kinh tế, mà là kim chỉ nam định hướng, xác lập quan điểm chính trị nhất quán của Đảng, làm cơ sở để các chính sách cụ thể - chứ không phải cảm tính - tiếp tục được thể chế hóa.
Từ tư duy thụ động sang chủ động
Tính đến năm 2026, Việt Nam có gần 17 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng 16% dân số. Và đến năm 2036, khi Việt Nam bước vào thời kỳ dân số già, tỷ lệ này sẽ tăng lên 20%.
Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam nhấn mạnh: Người cao tuổi “không chỉ là đối tượng được thụ hưởng chính sách, mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển... là điểm tựa tinh thần của gia đình và cộng đồng, vốn quý của dân tộc”.
Để quan điểm này trở thành hiện thực, cần cụ thể hóa bằng ba chuyển dịch chính sách, mỗi chuyển dịch gắn với một cơ chế thực thi rõ ràng:
Thứ nhất, từ xem người già là “lực lượng nghỉ hưu” sang “nguồn lực tái đóng góp”, cần đi kèm cơ chế cụ thể như chính sách thuế khuyến khích doanh nghiệp giữ lại hoặc thuê lại lao động lớn tuổi có kỹ năng ở vị trí cố vấn, đào tạo nội bộ; mô hình hợp đồng bán thời gian linh hoạt cho nhóm chuyên gia, nghệ nhân đã nghỉ hưu.
Thứ hai, từ “người già thụ động” sang “người cao tuổi chủ động”, đòi hỏi đầu tư hạ tầng cụ thể: Câu lạc bộ liên thế hệ, trung tâm sinh hoạt cộng đồng, chương trình đào tạo kỹ năng số cho người cao tuổi, chứ không chỉ là thay đổi cách gọi tên.
Thứ ba, từ “đối tượng thụ hưởng” sang “động lực kinh tế mới”, cần chính sách phát triển thị trường sản phẩm - dịch vụ chuyên biệt (chăm sóc sức khỏe tại nhà, du lịch dưỡng lão, bảo hiểm hưu trí bổ sung, thiết bị hỗ trợ sinh hoạt), tạo dư địa cho khu vực tư nhân đầu tư vào phân khúc tiêu dùng cao tuổi.
Song song với đó, hệ thống y tế cần dịch chuyển trọng tâm từ “chữa bệnh” sang “phòng bệnh và chăm sóc chủ động”, ưu tiên kiểm soát bệnh không lây nhiễm ngay từ giai đoạn trung niên, đây vừa là cách nâng chất lượng sống, vừa là cách giảm gánh nặng chi phí y tế về dài hạn, biến khoản chi ngân sách cho người cao tuổi từ chi phí an sinh thuần túy thành khoản đầu tư có lợi tức xã hội.
![]() |
| Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam chủ trì Hội nghị sơ kết, đánh giá công tác người cao tuổi 7 tháng đầu năm 2026 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới. |
Kinh tế bạc: Không gian cơ hội
Khái niệm “kinh tế bạc” (silver economy) bắt nguồn từ thuật ngữ “thị trường bạc” xuất hiện tại Nhật Bản những năm 1970. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa đây là môi trường trong đó người trên 60 tuổi tiếp tục tương tác tích cực với thị trường lao động, tham gia hoạt động sáng tạo, đồng thời là lực lượng tiêu dùng quan trọng. Liên minh châu Âu (EU) mở rộng khái niệm này thành tổng hợp các cơ hội kinh tế - cả từ chi tiêu công lẫn tiêu dùng tư nhân - phục vụ nhóm dân số từ 50 tuổi trở lên.
Về mặt bằng chứng quốc tế, Báo cáo Toàn cầu về Già hóa thế kỷ 21 của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) và Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi Quốc tế (HelpAge International) chỉ ra rằng, ở nhiều quốc gia đã triển khai chính sách thích ứng chủ động, tác động tiêu cực của già hóa dân số lên tăng trưởng kinh tế có thể được bù đắp đáng kể, thậm chí đảo chiều thành động lực mới - thông qua sự trỗi dậy của các “nền kinh tế già” (Aged Economy), nơi sức mua của người cao tuổi vượt trội so với các nhóm dân số khác. Dự báo đến năm 2040, thế giới sẽ có tới 89 nền kinh tế như vậy. Đây là kết quả có điều kiện: Nó phụ thuộc vào việc quốc gia có chủ động đầu tư vào hệ sinh thái kinh tế bạc hay không, chứ không tự động xảy ra chỉ vì dân số già đi.
Riêng khu vực châu Á - Thái Bình Dương, theo tính toán UNFPA, việc khai thác hiệu quả thị trường bạc có thể giúp GDP khu vực tăng thêm khoảng 2,8%. Với quy mô dân số cao tuổi của Việt Nam dự kiến chạm ngưỡng 20% vào năm 2036, đây là một dư địa tăng trưởng đáng kể nếu được khai thác đúng hướng - nhưng cũng là con số nhắc nhở rằng cơ hội này không tự đến, mà cần được kiến tạo bằng chính sách và đầu tư cụ thể.
![]() |
| Hội NCT Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tỉnh Bắc Ninh, Tập đoàn CT.Group phối hợp tổ chức “Ngày hội NCT hưởng ứng trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” năm 2026. |
Phát huy tinh thần chủ động, cống hiến của người cao tuổi
Thực tiễn Việt Nam cho thấy, người cao tuổi đang đóng vai trò tích cực trên nhiều lĩnh vực. Trong phát triển kinh tế, cả nước có hơn 9 triệu người cao tuổi trực tiếp tham gia lao động sản xuất, tương đương hơn một nửa tổng số người cao tuổi cả nước, trong đó khoảng 40% hoạt động trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Con số này cần được nhìn nhận đầy đủ hai chiều: Một phần phản ánh tinh thần chủ động, mong muốn tiếp tục cống hiến của người cao tuổi; nhưng một phần cũng phản ánh thực tế rằng độ phủ bảo hiểm hưu trí ở khu vực nông thôn, phi chính thức còn nhiều hạn chế khiến nhiều người cao tuổi vẫn phải lao động để duy trì sinh kế. Nhìn thẳng vào thực tế này không làm giảm giá trị đóng góp của người cao tuổi, mà ngược lại, chỉ ra một hướng chính sách cụ thể: Cần đẩy mạnh hơn mở rộng độ phủ an sinh xã hội để người cao tuổi tiếp tục lao động trở thành lựa chọn tự nguyện, thay vì bắt buộc.
Ở nhóm có kỹ năng chuyên sâu, theo Báo cáo Sơ kết, đánh giá kết quả công tác người cao tuổi 7 tháng đầu năm 2026 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới của Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam, cả nước ghi nhận hơn 95.000 người cao tuổi làm chủ trang trại, cơ sở kinh doanh hoặc doanh nghiệp quy mô lớn, cùng hơn 300.000 cá nhân đạt danh hiệu “Người cao tuổi làm kinh tế giỏi”, tương đương khoảng 2,4% tổng số người cao tuổi cả nước trực tiếp giữ vai trò dẫn dắt kinh tế, một tỷ lệ đáng ghi nhận nếu đặt trong tương quan với các nhóm tuổi khác. Đội ngũ trí thức, nghệ nhân, nhà khoa học cao tuổi tiếp tục là nguồn cố vấn chiến lược, chuyển giao kỹ năng cho lực lượng lao động trẻ.
Trên phương diện chính trị - xã hội, hơn 733.000 người cao tuổi trực tiếp tham gia công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể và hòa giải cơ sở; hơn 1,1 triệu hội viên tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Uy tín và kinh nghiệm của họ giúp hóa giải mâu thuẫn nội bộ Nhân dân, góp phần ổn định xã hội từ cấp cơ sở, một chức năng khó định lượng bằng GDP nhưng có giá trị thực tiễn rõ ràng trong quản trị địa phương.
Về văn hóa, gần 90.000 câu lạc bộ văn nghệ, thể thao thu hút hơn 3 triệu người cao tuổi, cùng hơn 9.000 câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau, là những thiết chế cụ thể giúp duy trì mạch nối giữa các thế hệ, đồng thời tạo không gian sinh hoạt cộng đồng giảm nguy cơ cô lập xã hội ở người cao tuổi.
Từ nhận thức đến hành động chính sách cụ thể
Già hóa dân số đặt ra thách thức thật, nhưng không phải là định mệnh tiêu cực không thể chuyển hóa. Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam cho thấy: Quốc gia nào chủ động đầu tư vào hệ sinh thái kinh tế bạc, từ mở rộng độ phủ an sinh xã hội, phát triển thị trường sản phẩm - dịch vụ chuyên biệt, đến tạo cơ chế để người cao tuổi tiếp tục đóng góp tri thức và kinh nghiệm, quốc gia đó có thể biến áp lực nhân khẩu học thành động lực tăng trưởng mới.
Để đạt được điều này, ba nhóm chính sách cần được ưu tiên trong giai đoạn tới: Hoàn thiện cơ chế thuế và tín dụng khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động cao tuổi có kỹ năng; mở rộng bảo hiểm y tế dự phòng và bảo hiểm hưu trí bổ sung để giảm sự phụ thuộc của người cao tuổi vào lao động bắt buộc; và tạo hành lang pháp lý thuận lợi để khu vực tư nhân đầu tư vào các ngành dịch vụ dành cho người cao tuổi.
Người cao tuổi Việt Nam, với bản lĩnh chính trị, kinh nghiệm sống và tri thức tích lũy qua nhiều thập kỷ, chính là một phần cấu thành quan trọng của nguồn lực nội sinh đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới. Nhưng để nguồn lực ấy thực sự được khơi thông đòi hỏi những chính sách cụ thể, đo lường được, đi cùng cam kết đầu tư dài hạn từ cả Nhà nước và xã hội.




