Thống nhất với sự cần thiết, sự phù hợp của nội dung với chủ trương, đường lối của Đảng, về phạm vi điều chỉnh, về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật, về tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan của Dự án sửa đổi luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL).
![]() |
| Đại biểu Quốc hội Bùi Văn Dũng phát biểu tại phiên thảo luận tổ, sáng ngày 4/8. |
Đại biểu Bùi Văn Dũng góp ý ba vấn đề, trong đó có một số nội dung cụ thể của dự thảo, đó là:
Thứ nhất, (tại Điều 5, Điều 13, Điều 23 và Điều 25) về mục tiêu và đánh giá hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật, những điều này cùng nhau tạo thành một hệ thống quy định đồng bộ, định hướng cho việc đổi mới toàn diện công tác PBGDPL theo hướng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, hướng tới xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật thực chất trong xã hội.
Với nội dung tại các điều này, cần phải chuyển mạnh từ “phổ biến cho biết” sang “phổ biến để người dân hiểu, sử dụng và tuân thủ pháp luật”. Đây là vấn đề căn bản nhất của lần sửa đổi này.
Thực tế lâu nay chúng ta vẫn thường đánh giá bằng số hội nghị, số tài liệu, số lượt người tham dự, số báo cáo viên, tuyên truyền viên. Những chỉ số đó phản ánh khối lượng công việc nhưng chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả cuối cùng.
Một người đã được phổ biến pháp luật chưa chắc đã hiểu pháp luật; hiểu pháp luật chưa chắc đã biết vận dụng; và biết pháp luật cũng chưa chắc đã hình thành hành vi tuân thủ.
Đồng tình với hướng mới của dự thảo và ý kiến thẩm tra là “đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật phải dựa trên hiệu quả thực chất, trong đó có ý thức chấp hành pháp luật và sự hài lòng của đối tượng được phổ biến”.
Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ngay trong Luật ba tầng kết quả: “tiếp cận được pháp luật – hiểu và sử dụng được pháp luật – hình thành ý thức và hành vi tuân thủ pháp luật”. Nếu không thay đổi thước đo thì rất khó thay đổi cách làm. Vì thước đo cuối cùng của phổ biến, giáo dục pháp luật không phải là Nhà nước đã phổ biến bao nhiêu, mà là người dân hiểu luật hơn, thực hiện đúng luật hơn và ít phải trả giá hơn vì không biết pháp luật.
Thứ hai, tại Điều 7 trong Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) đã quy định chi tiết về phân cấp quản lý nhà nước trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật, từ Trung ương đến địa phương, trong đó xác định vai trò của Chính phủ, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành và chính quyền các cấp trong việc tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn và đánh giá hoạt động này, đặc biệt nhấn mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
Hướng chỉnh lý mới này là cụ thể, rõ ràng nhưng cần phải tiếp tục làm rõ để tránh hình thức hóa.
Dự thảo hiện đã đi theo hướng người đứng đầu bộ, cơ quan ở Trung ương và Chủ tịch UBND cấp xã “quyết định thành lập Hội đồng khi cần thiết”, thay vì mặc nhiên nơi nào cũng phải thành lập.
Đây là hướng hợp lý, đặc biệt trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn là phải làm rõ một nguyên tắc: “Hội đồng là cơ chế phối hợp, không được trở thành cơ chế làm loãng trách nhiệm”.
Cơ quan nào xây dựng, quản lý chính sách thì cơ quan đó phải chịu trách nhiệm chính trong việc đưa pháp luật thuộc lĩnh vực mình đến với người dân.
Ví dụ, chính sách mới về thuế thì cơ quan thuế phải giải thích được người dân phải làm gì; chính sách đất đai thì cơ quan quản lý đất đai phải chịu trách nhiệm phổ biến những quyền, nghĩa vụ và thủ tục mới; không thể ban hành xong rồi coi việc phổ biến chủ yếu là trách nhiệm của ngành Tư pháp.
Đại biểu Bùi Văn Dũng đề nghị tại Điều 7 và các điều về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức cần thể hiện thật rõ: “Hội đồng không thay thế trách nhiệm của từng bộ, ngành và người đứng đầu”. Ngành Tư pháp làm chức năng điều phối, hướng dẫn, kiểm tra và xây dựng nền tảng chung; còn “ai xây dựng và quản lý chính sách thì người đó phải chịu trách nhiệm đưa chính sách vào cuộc sống”.
Thứ ba, các quy định liên quan đến Cổng Pháp luật quốc gia, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) chủ yếu nằm ở Điều 7, Điều 12, Điều 13 và Điều 15. Trong đó, Điều 13 là điều tập trung quy định chính về Cổng Pháp luật quốc gia, còn các điều khác bổ sung về hình thức, trách nhiệm và quản lý ứng dụng công nghệ.
Dự án luật lần này vì thế cần tiến thêm một bước.
Ngày 13/7/2026 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển Cổng Pháp luật quốc gia giai đoạn 2026–2030, xác định đây là “nền tảng số dùng chung quốc gia về pháp luật, là điểm truy cập tập trung thông tin, dữ liệu pháp luật”.
![]() |
| Ông Lê Đức Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa điều hành phiên thảo luận tại Tổ 3, gồm Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa và Đoàn ĐBQH tỉnh Tây Ninh. |
Vì vậy, Luật lần này cần thể hiện rõ tinh thần đó, tránh tình trạng sau khi Luật ban hành mỗi bộ, ngành, địa phương lại tiếp tục xây dựng thêm một hệ thống, một ứng dụng, một kho dữ liệu riêng. Do đó, cần quy định theo ba nguyên tắc.
Một là, một đầu mối pháp luật chính thống. Người dân phải biết khi cần tìm hiểu pháp luật thì đâu là địa chỉ Nhà nước bảo đảm về tính chính xác và cập nhật.
Hai là, dữ liệu phải liên thông. Cổng Pháp luật quốc gia phải kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và các cơ sở dữ liệu có liên quan; tránh hình thành các “ốc đảo dữ liệu”.
Ba là, phải đặc biệt làm rõ trách nhiệm khi ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Dù rất đồng tình sử dụng AI để người dân có thể hỏi một câu hỏi pháp lý bằng ngôn ngữ thông thường và nhanh chóng tìm được quy định liên quan. Tuy nhiên, có một vấn đề khiến đại biều Bùi Văn Dũng phân vân, đó là: nếu AI trả lời sai pháp luật, sử dụng văn bản đã hết hiệu lực hoặc hướng dẫn khiến người dân thực hiện sai thì ai chịu trách nhiệm?
Luật cần xác lập nguyên tắc: AI là công cụ hỗ trợ tiếp cận thông tin pháp luật; nguồn dữ liệu phải là nguồn chính thống, kết quả phải có khả năng truy xuất căn cứ pháp lý và trách nhiệm cuối cùng về hệ thống vẫn thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không thể chuyển trách nhiệm sang thuật toán.
Phân tích rõ nét từ ba vấn đề trên, đại biểu Bùi Văn Dũng cho rằng, lần sửa đổi này cần tạo ra ba chuyển đổi, đó là: Từ phổ biến văn bản sang hình thành năng lực sử dụng pháp luật; Từ trách nhiệm chung sang trách nhiệm cụ thể của cơ quan làm ra và quản lý chính sách; Từ số hóa phân tán sang một hệ sinh thái dữ liệu pháp luật thống nhất, chính xác và có trách nhiệm.
Nếu làm được như vậy, chúng ta sẽ từng bước khắc phục được ba khoảng cách: từ văn bản đến nhận thức; từ nhận thức đến hành động; và từ quyền được biết pháp luật đến khả năng thực sự sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân – đại biểu Bùi Văn Dũng kỳ vọng.


