Củng cố khối đại đoàn kết từ công tác dân tộc, tôn giáo
Nghiên cứu - Trao đổi 01/05/2026 11:00
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, dân tộc ta đã phải bước vào hai cuộc kháng chiến, đấu tranh trường kỳ để bảo vệ nền độc lập và thống nhất đất nước. Đế quốc Mỹ thế chân thực dân Pháp can thiệp vào Việt Nam, thực hiện âm mưu chia cắt nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành tiền đồn ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á và các lực lượng tiến bộ khác trên thế giới.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”(1), Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng công tác xây dựng và phát huy nhân tố chính trị, tinh thần của lực lượng vũ trang nhân dân và toàn dân, đặc biệt là trong cuộc kháng chống Mỹ, cứu nước, khi mà quân và dân ta phải chiến đấu chống lại kẻ thù hung bạo, có tiềm lực kinh tế và quân sự bậc nhất thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh tại Hội nghị Chính trị vào tháng 3/1964: “Toàn thể đồng bào miền Bắc ta phải luôn nhớ rằng, trong lúc chúng ta đang sinh hoạt và xây dựng hòa bình thì đồng bào miền Nam ta đang hy sinh, phấn đấu anh dũng chiến đấu chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Vì vậy, mỗi người chúng ta phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt”.
![]() |
Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, không ngại khó khăn, gian khổ, ở miền Bắc, từng đoàn quân, đoàn xe nối dài vượt Trường Sơn đã hình thành một tuyến hậu cần chiến lược, huyết mạch nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam. Cả một hậu phương vững chắc với tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai”, đã tạo nên nguồn lực to lớn góp phần vào thắng lợi chung. Tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại từ năm 1965 đến 1975 là một trong những yếu tố then chốt, để giữ cho “mạch máu giao thông” luôn thông suốt. Ở miền Nam, quân và dân kiên cường bám trụ, đánh bại các kế hoạch bình định lấn chiếm của địch.
Trong 55 ngày đêm thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương đã ban hành nhiều chỉ thị và liên tục gửi hàng chục bức điện để chỉ đạo quân và dân ta nắm vững thời cơ chiến lược, đã sục sôi ý chí “quyết chiến, quyết thắng”, “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, “không có gì quý hơn độc lập, tự do” với quyết tâm “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, khát vọng ấy đã hun đúc lên ngọn lửa cách mạng chân chính “vì độc lập, vì tự do”, “đánh cho Mỹ cút”, “đánh cho ngụy nhào”.
Từ sức mạnh vô địch được kết tinh với khát vọng ấy, bắt đầu là chiến dịch Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã giành thắng lợi vang dội trên chiến trường, tạo đà phát huy sức mạnh tổng hợp, từng bước đánh bại địch, đập tan bộ máy cai trị của chính quyền Việt Nam cộng hòa ở toàn miền Nam, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khiến cả thế giới phải ngỡ ngàng.
Đúng 11 giờ 30 phút trưa ngày 30/4/1975, hình ảnh xe tăng quân giải phóng băng qua cánh cổng sắt, húc đổ cổng Dinh Độc Lập, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc, đánh chiếm Phủ Tổng thống ngụy Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của quân địch, đã khép lại cuộc chiến tranh kéo dài hơn hai thập kỷ. Đây là minh chứng sống động cho ý chí quật cường và sức mạnh vô địch của dân tộc, đưa Việt Nam bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên hòa bình, độc lập và thống nhất.
Vào ngày 30/4/1975, cả dân tộc vỡ òa trong niềm vui chiến thắng. Biết bao máu và nước mắt đã đổ xuống để đổi lấy khoảnh khắc thiêng liêng ấy. Niềm vui, phấn khởi với những lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió, những đoàn người nhộn nhịp, hân hoan đổ ra đường, những giọt nước mắt hạnh phúc lăn dài trên má... Từ dòng sông Bến Hải đến cây cầu Hiền Lương không còn phải chia cắt đôi bờ; non sông liền một dải, Bắc - Nam sum họp một nhà sau bao năm chia cắt bởi chiến tranh.
Đây là “hành trình bất tử”, từ “ký ức đến khát vọng” hòa bình, thống nhất được đổi lấy bằng máu với “chứng nhân” là hàng nghìn nghĩa trang liệt sĩ. Trải dài từ Nghĩa trang Trường Sơn, nghĩa trang liệt sĩ ở 34/34 tỉnh, thành phố là nơi yên nghỉ của hơn một triệu anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ đã dâng hiến cả tuổi thanh xuân, máu xương của bao lớp người đã hòa vào lòng đất mẹ. Mỗi nén hương tỏ lòng thành kính tri ân những người con quê hương đã ngã xuống cho ngày thống nhất, cho lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên dải đất hình chữ S thân yêu.
Đại thắng mùa Xuân 30/4/1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi, là bản hùng ca bất diệt, khẳng định ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và hòa bình, biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, là bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Chiến thắng 30/4 là một minh chứng cho đường lối đúng đắn, sáng suốt và tài tình của Đảng ta, từ sức mạnh tổng hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; từ truyền thống yêu nước và tinh thần khát khao mãnh liệt về một nền hòa bình bền vững, về quyền tự quyết của một dân tộc từng bị đô hộ, chia cắt và áp bức; về độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất Tổ quốc của dân tộc Việt Nam.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã từng khẳng định: “Tinh thần thống nhất đất nước - từng là niềm tin và ý chí sắt đá để vượt qua khó khăn, thử thách, mưa bom, bão đạn - nay phải trở thành quyết tâm chính trị, ý chí đổi mới và hành động cụ thể để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân. Phải làm cho mỗi người Việt Nam, dù ở đâu, dù làm gì, đều tự hào về đất nước, tin tưởng vào tương lai và có cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung”(2).
Việt Nam đã hồi sinh thần kỳ từ tro tàn chiến tranh, nay đã vươn mình thành biểu tượng của một quốc gia yêu chuộng hòa bình, hội nhập sâu rộng, năng động, có uy tín và vị thế ngày càng lớn trên trường quốc tế.
Từ nền kinh tế khan hiếm hàng hóa, lạm phát 774% cuối năm 1986, Việt Nam đã từng bước vươn lên thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Quy mô GDP hiện nay đã cán mốc hơn 510 tỷ USD đưa Việt Nam vào nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất toàn cầu.
Phát huy tinh thần bất diệt của Đại thắng mùa Xuân năm 1975, chúng ta tự hào tin tưởng vào sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam - một dân tộc đã bao lần đánh thắng ngoại xâm và đứng dậy từ chiến tranh, khẳng định mình trước lịch sử và trước thế giới. Với truyền thống nghìn năm dựng nước và giữ nước, thế hệ cán bộ, công chức và viên chức, nhất là thế hệ trẻ tài năng, hoài bão, yêu nước, sáng tạo và đầy bản lĩnh cần khắc ghi lịch sử, không bao giờ được lãng quên quá khứ. Không chỉ học lịch sử để thi, mà là để hiểu cội nguồn, để nuôi dưỡng lòng tự hào và trách nhiệm với đất nước.
Mọi người con đất Việt - dù sinh sống ở đâu, dù quá khứ thế nào - muôn triệu người như một, đoàn kết, đều có thể đồng hành, chung sức, hành động hôm nay phải xứng đáng với máu xương đã đổ xuống, với những hy sinh mất mát mà cả dân tộc đã từng gánh chịu, tạo thành sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc, vượt qua mọi khó khăn thách thức, biến những ước mơ trở thành hiện thực. Bằng khát vọng mạnh mẽ, bằng tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, bằng sự hội nhập chủ động, trí tuệ và tự tin - nhất định sẽ viết tiếp những chương mới rực rỡ trong hành trình vươn mình, góp phần xây dựng một tương lai tươi sáng cho dân tộc, đưa Việt Nam tăng tốc, bứt phá, cất cánh và vững bước vào kỉ nguyên phát triển mới, thống nhất, tự cường và thịnh vượng.
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.4, tr.89.
(2) Tổng Bí thư Tô Lâm, “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, ngày 05/5/2025.