Vai trò của công tác xã hội trong chăm sóc người cao tuổi
Nghiên cứu - Trao đổi 04/04/2026 08:15
Từ thời phong kiến đến hiện đại, văn hoá Việt Nam luôn đặt sự kính trọng người cao tuổi lên hàng đầu. Trong triết lý dân gian, người cao tuổi luôn là linh hồn của làng xã, là nguồn sách sử sống lưu giữ kinh nghiệm, đạo lý cho thế hệ sau. Về mặt lịch sử, nghi lễ mừng thọ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng Nho giáo với chữ “Hiếu” và chữ “Lễ”. Việc chăm sóc, phụng dưỡng và tôn vinh người già không chỉ là nghĩa vụ đạo đức của con cháu mà còn là chuẩn mực để đánh giá sự nề nếp của một gia đình, dòng họ.
Dưới góc độ pháp lý, giá trị đạo đức và tập quán đóng vai trò là nền tảng hình thành nên các quy phạm pháp luật. Việc tổ chức Lễ mừng thọ vào dịp đầu Xuân năm mới hay các ngày lễ lớn là biểu tượng của trường thọ và phúc lộc. Những tập quán, chuẩn mực đạo đức và hương ước làng xã này chính là tiền đề văn hóa, tạo cơ sở vững chắc để Nhà nước tiếp thu, chọn lọc và tiến hành chuyển hóa thành hệ thống quy phạm pháp luật về an sinh xã hội hiện hành.
Sự nâng cấp của nghi lễ mừng thọ từ một phong tục dân gian, khuôn khổ gia đình thành một chính sách của Nhà nước dành cho người cao tuổi là bước tiến lớn của Việt Nam trong công tác an sinh xã hội. Các quy định pháp luật hiện hành không chỉ tạo ra hành lang pháp lý vững chắc nhằm tôn vinh, bảo vệ quyền lợi của người cao tuổi mà còn thể chế hóa đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
![]() |
Luật Người cao tuổi năm 2009 là văn bản pháp luật chính thức quy định toàn diện về quyền và nghĩa vụ đối với người cao tuổi. Kể từ khi luật này được ban hành, hoạt động mừng thọ được quy định cụ thể là trách nhiệm của Nhà nước và cộng đồng. Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011 nhằm hướng dẫn thi hành Luật Người cao tuổi năm 2009.
Theo Nghị định này, Bộ Tài chính là cơ quan quy định mức chi tổ chức, cụ thể hóa qua Thông tư 96/2018/TT-BTC nhằm đảm bảo tính đồng bộ, minh bạch về tài chính của hoạt động mừng thọ trên cả nước. Bên cạnh đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan quy định chi tiết việc tổ chức thông qua Thông tư số 06/2012/TT-BVHTTDL ngày 14/5/2012.
Các Quy định về mừng thọ
Thứ nhất, quy định về độ tuổi và thẩm quyền mừng thọ người cao tuổi.
Theo Điều 8 Luật Người cao tuổi 2009 xác định rõ trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và Nhà nước trong việc tôn vinh, chăm sóc người cao tuổi. Quy định cụ thể của việc luật hóa nghi lễ mừng thọ tại Điều 21 quy định về Chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi, phân cấp rõ ràng về độ tuổi và thẩm quyền tổ chức vinh danh như sau:
“1. Người thọ 100 tuổi được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chúc thọ và tặng quà.
2. Người thọ 90 tuổi được Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chúc thọ và tặng quà.
3. Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn phối hợp với Hội người cao tuổi tại địa phương, gia đình của người cao tuổi tổ chức mừng thọ người cao tuổi ở tuổi 70, 75, 80, 85, 90, 95 và 100 tuổi trở lên vào một trong các ngày sau đây:
a) Ngày người cao tuổi Việt Nam;
b) Ngày Quốc tế người cao tuổi;
c) Tết Nguyên đán;
d) Sinh nhật của người cao tuổi”.
Việc pháp luật quy định cụ thể các mốc tuổi (cứ 5 năm một lần bắt đầu từ tuổi 70) giúp thống nhất công tác tổ chức trên toàn quốc. Đồng thời, sự phân cấp cao nhất từ Chủ tịch nước - người đại diện cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến chính quyền địa phương các cấp cho thấy sự trân trọng đặc biệt của Nhà nước đối với những người cao tuổi - những “cây cao bóng cả”, trụ cột văn hóa và tinh thần của quần chúng Nhân dân.
Thứ hai, quy định về kinh phí tổ chức và định mức quà tặng cho việc mừng thọ, chúc thọ
Theo Nghị định 06/2011/NĐ-CP, kinh phí mừng thọ do ngân sách Nhà nước, cụ thể là ngân sách địa phương bảo đảm và sự đóng góp của xã hội. Để bảo đảm tính minh bạch, Thông tư 96/2018/TT-BTC quy định mức quà tặng cụ thể như sau: Đối với người thọ 100 tuổi: Được tặng 5 mét vải lụa đỏ và 700.000 đồng tiền mặt. Lụa đỏ là vật phẩm mang tính biểu tượng văn hóa sâu sắc, tượng trưng cho sự may mắn và trường thọ. Đối với người thọ 90 tuổi: Được tặng hiện vật trị giá 150.000 đồng và 500.000 đồng tiền mặt. Đối với các mốc tuổi khác: Mức quà tặng do Chủ tịch HĐND/UBND cấp tỉnh quyết định dựa trên khả năng cân đối ngân sách địa phương. Điều này tạo ra sự linh hoạt, cho phép các tỉnh có điều kiện kinh tế ban hành nghị quyết riêng để nâng mức chăm lo cao hơn mức sàn trung ương.
Thứ ba, quy định về hình thức và không gian văn hóa tổ chức chúc thọ, mừng thọ
Không chỉ hỗ trợ kinh phí, pháp luật còn quy định không gian, thời gian và nghi thức tổ chức Lễ mừng thọ thông qua Thông tư 06/2012/TT-BVHTTDL, nhằm kiến tạo nếp sống thanh lịch và tôn vinh người cao tuổi trọn vẹn. Theo Điều 7 và Điều 11 của Thông tư, lễ vinh danh được ấn định vào các dịp trọng đại (Ngày Người cao tuổi Việt Nam, Ngày Quốc tế Người cao tuổi, Tết Nguyên đán hoặc sinh nhật) nhằm nhân đôi niềm vui và tạo điều kiện cho gia đình đoàn tụ. Tính nhân văn, bao trùm của chính sách còn thể hiện qua việc đại diện chính quyền sẽ đến tận nhà trao giấy và quà mừng thọ cho những cụ ốm đau không thể dự lễ tập trung. Đặc biệt, sự am hiểu văn hóa của các nhà làm luật bộc lộ rõ qua quy định phân định danh xưng: “Lễ mừng thọ” (70, 75 tuổi), “Lễ mừng thượng thọ” (80, 85 tuổi) và “Lễ mừng thượng thượng thọ” (từ 90 tuổi trở lên); hoặc gọi chung là “Lễ mừng thọ” nếu tổ chức ghép để bảo đảm sự bình đẳng.
Cuối cùng, việc khuyến khích mặc trang phục truyền thống, tôn giáo riêng đã biến buổi lễ thành không gian bảo tồn bản sắc văn hóa đa dạng của 54 dân tộc anh em.
Thực trạng tổ chức mừng thọ ở các vùng miền tại Việt Nam:
Tính đa dạng văn hóa vùng miền đã khoác lên nghi lễ mừng thọ những bản sắc đa dạng do đó việc thi hành pháp luật vào đời sống thực tiễn bộc lộ nhiều khía cạnh và cũng gặp những rào cản nhất định.
Là cái nôi của văn hóa làng xã, lễ mừng thọ tại Đồng bằng Bắc Bộ thường diễn ra tập trung tại nhà văn hóa thôn hoặc sân đình vào dịp mùng 4, mùng 5 Tết. Việc mừng thọ mang tính cộng đồng rất cao, thắt chặt tình làng nghĩa xóm. Tuy nhiên, dưới góc độ thực thi pháp luật, sự lấn át của các tập quán lệ làng đôi khi khiến các quy định về nếp sống văn minh, thực hành tiết kiệm của Thông tư 06/2012/TT-BVHTTDL bị xem nhẹ. Tâm lý phô trương dẫn đến có thể xảy ra việc tổ chức cỗ bàn linh đình kéo dài, gây lãng phí xã hội.
Tại khu vực Miền Trung, do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, lễ mừng thọ thiên về tính trang nghiêm, hướng nội và gắn chặt với không gian từ đường gia tộc. Nghi thức đề cao chiều sâu của lòng hiếu thảo hơn là quy mô tiệc tùng.
Tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh hay Đà Nẵng, quá trình đô thị hóa làm thay đổi đáng kể phương thức thực hiện khi không gian tổ chức dịch chuyển từ các hình thức văn hóa cơ sở (đình làng, nhà văn hóa) sang các không gian dịch vụ (nhà hàng, khách sạn). Quà tặng chuyển từ vật phẩm biểu tượng sang các món quà y tế thiết thực. Tuy nhiên, tính tiện lợi hóa đôi khi làm suy giảm sự trang nghiêm của sự kiện, khiến lễ mừng thọ có nguy cơ bị biến thành những buổi tiệc giao tế thông thường.
Qua việc khảo sát thực trạng, có thể thấy thực tiễn tổ chức mừng thọ tại Việt Nam đang được tổ chức đảm bảo tính truyền thống, cộng đồng nhưng cũng có nét hiện đại, cá nhân hóa. Sự đa dạng này phản ánh năng lực thích ứng của văn hóa nhưng cũng bộc lộ những khoảng cách giữa văn bản luật và thực thi thực tế.
Kiến nghị chính sách
Để phát huy giá trị tốt đẹp của nghi lễ mừng thọ đồng thời nhằm phù hợp với đời sống hiện tại tác giả đề xuất:
Thứ nhất, về mặt quản lý nhà nước và xã hội, chính quyền địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Cần bổ sung quy định pháp lý bắt buộc lồng ghép các tiêu chí chuẩn hóa nghi thức mừng thọ văn minh, tiết kiệm của Thông tư 06/2012/TT-BVHTTDL nhằm tránh việc thương mại hóa nghi lễ truyền thống này.
Thứ hai, về chính sách tài chính, cần có cơ chế sửa đổi Thông tư 96/2018/TT-BTC. Việc quy định mức chi cụ thể (500.000 - 700.000 đồng) đã không còn phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng hiện tại. Cần quy định mức quà tặng được tính theo hệ số nhân với mức lương cơ sở để bảo đảm tính tự động cập nhật của ngân sách. Đồng thời, đẩy mạnh chủ trương xã hội hóa, huy động các quỹ từ thiện hỗ trợ tổ chức mừng thọ cho những người cao tuổi neo đơn, khó khăn.
Thứ ba, cần có sự đổi mới trong tư duy lập pháp bằng cách lồng ghép hoạt động mừng thọ với các chương trình y tế. Việc tôn vinh tuổi tác cần đi đôi với nâng cao chất lượng sống. Các địa phương có thể nghiên cứu quy chế thay thế một phần hình thức tặng quà tiền mặt bằng các gói khám sức khỏe định kỳ, cấp phát thẻ bảo hiểm y tế chất lượng cao, đem lại giá trị chăm sóc thực tiễn nhất.
Mừng thọ người cao tuổi ở Việt Nam là một phong tục truyền thống mang đậm tính nhân văn, phản ánh sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Từ một thực hành văn hóa, mừng thọ đã được Nhà nước luật hóa trở thành chính sách an sinh xã hội quan trọng. Trong kỷ nguyên già hóa dân số, việc rà soát và hoàn thiện các quy định về định mức tài chính và thẩm quyền tổ chức là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm mọi người cao tuổi đều được tôn vinh một cách thiết thực và công bằng.