Theo gương Bác, người cao tuổi nguyện học tập suốt đời
Nghiên cứu - Trao đổi 14/02/2026 08:12
1. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chăm lo cho người cao tuổi
Thứ nhất, người cao tuổi là vốn quý của dân tộc, là một trong những chủ thể quan trọng trong mọi cuộc cách mạng. “Kính trên nhường dưới”; “kính già, già để tuổi cho” hay “kính lão đắc thọ” là những câu châm ngôn trong kho tàng giá trị văn hóa truyền thống và đạo đức xã hội của dân tộc Việt Nam thể hiện sự kính mến và tôn trọng đối với người cao tuổi. Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn dành sự kính trọng, tôn vinh và đặt niềm tin sâu sắc đối với những bậc phụ lão nước ta. Ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào, mỗi khi gặp gỡ, tiếp xúc, Người đều ân cần hỏi thăm và nhắc nhở mọi người phải cung kính với các cụ già, những người lớn tuổi, bởi “Đối với gia đình, đối với Tổ quốc, phụ lão có trọng trách là bậc tôn trưởng. Đối với làng xóm, đối với bà con, phụ lão có sự tín nhiệm lớn lao” (1).
Qua nghiên cứu và đúc kết lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định một đặc điểm to lớn của các bậc phụ lão nước ta là “Tuổi tác càng cao, lòng yêu nước càng lớn” (2) đây không chỉ là một lời khen ngợi mà còn là sự khẳng định về vai trò chiến lược của người cao tuổi trong sự nghiệp cách mạng. Bởi họ là những người sinh ra và lớn lên, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, họ hiểu rõ giá trị của độc lập và tự do. Vì vậy, khi càng có tuổi, ý chí bảo vệ quê hương của các cụ phụ lão không những không mai một mà còn trở nên sắt đá hơn.
![]() |
| Ảnh tư liệu |
Từ đó, Hồ Chí Minh đã khái quát lại thành “Truyền thống “Điện Diên Hồng” (3) để gọi tên truyền thống yêu nước vẻ vang của các cụ phụ lão ta nói riêng và của toàn thể nhân dân ta nói chung. Trong thời kì kháng chiến, bên cạnh thanh niên, phụ nữ, thiếu niên, nhi đồng… chúng ta còn có những đội du kích “bạch đầu quân”, những “đội viên tóc bạc răng long”, họ đã chiến đấu anh dũng và “làm cho lũ giặc kinh hồn và khuyến khích chiến sĩ ta càng thêm dũng cảm” (4) “Tấm gương oanh liệt của các bậc lão tiền bối như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến còn treo đó” (5) về tinh thần cách mạng, tinh thần diệt giặc Pháp, đánh đuổi Việt gian đã góp phần không nhỏ vào cuộc thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta. Trong công cuộc kiến thiết xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, các cụ phụ lão cũng tham gia rất hăng hái, từ việc tham gia tổ chức và xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, tham gia phong trào sản xuất vụ mùa… cho đến việc góp sức trong phong trào xoá nạn mù chữ và bổ túc văn hoá. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trách nhiệm của các cụ phụ lão chúng ta đối với nhiệm vụ đất nước thật trọng đại. Đất nước hưng thịnh là do phụ lão gây dựng. Đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức. Đất nước bị mất phụ lão cứu. Đất nước suy sụp phụ lão phủ trì. Nước nhà hưng, suy, tồn, vong; phụ lão đều gánh trách nhiệm rất nặng nề” (6).
Trong quan điểm của Người, người cao tuổi chính là anh cả của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là người cha, người ông trong gia đình, là bậc trưởng lão của làng xóm, là người huy động và đại diện tiếng nói của bà con nhân dân. Hơn nữa, người cao tuổi đã tôi luyện qua thời gian thử thách, đóng góp trọn sức mình vào công cuộc xây dựng, bảo vệ nước nhà, cống hiến thanh xuân của bản thân để hoàn thiện xã hội. Vì lẽ đó, người cao tuổi được Chủ tịch Hồ Chí Minh xem là vốn quý của dân tộc, là một trong những chủ thể quan trọng trong mọi cuộc cách mạng và nhấn mạnh chăm lo người cao tuổi là công việc hệ trọng, cấp bách.
Thứ hai, chăm lo người cao tuổi xuất phát từ mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân. Trong quan điểm Hồ Chí Minh, việc chăm lo cho người cao tuổi không chỉ đơn thuần là đạo lý “uống nước nhớ nguồn” mà còn là một phần chiến lược trong mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe toàn dân.
Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định sức khỏe của mỗi cá nhân đều có đóng góp trực tiếp vào sức mạnh của quốc gia, dân tộc bởi: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ” (7). Vậy nên quốc gia, dân tộc chỉ thực sự mạnh khi mọi thành phần, từ trẻ nhỏ đến người già, đều khỏe mạnh. Đặc biệt trong đó, người cao tuổi là một trong những chủ thể quan trọng cấu thành nên nhân dân Việt Nam - những người nắm giữ kinh nghiệm và uy tín trong cộng đồng - họ cần phải được chăm sóc và nâng cao sức khỏe để thực hiện các công việc vừa sức như tăng gia sản xuất, giáo dục con cháu và làm gương trong các phong trào thi đua, làm điểm tựa tinh thần và là nguồn lực quý báu cho sự phát triển. Ngược lại, nếu người cao tuổi không được chăm sóc tốt và trở nên “yếu ớt”, họ không chỉ không tự chăm sóc được bản thân mà thậm chí trở thành “gánh nặng” về chăm sóc y tế cho gia đình, xã hội sẽ làm suy giảm nội lực của toàn dân tộc.
Đồng thời, xuất phát từ mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng và Chính phủ đối với việc chăm lo sức khỏe và đời sống cho nhân dân, trong đó bao gồm cả người cao tuổi, Người nói: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi” (8) Đảng và Chính phủ phải làm sao cho “ai cũng được làm việc, được ăn no mặc ấm, được học hành, người già yếu thì được giúp đỡ” (9). Quan điểm này chính là sự khẳng định ngắn gọn nhưng đầy đủ nhất về một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh - một xã hội không ai bị bỏ lại phía sau, nhất là những người không còn hoặc còn ít khả năng lao động - người cao tuổi.
Thứ ba, chăm lo người cao tuổi phải song hành với phát huy vai trò của họ.
Tục ngữ ta có câu “Việc nước nghe già, việc nhà nghe trẻ” nghĩa là mỗi lứa tuổi đều có ưu điểm riêng nếu biết sử dụng đúng thì sẽ phát huy hiệu quả, trong đó người già có thế mạnh về trí tuệ, kinh nghiệm, vốn sống nên lắng nghe họ trong các vấn đề lớn của quốc gia hay làng xã. Vận dụng ý nghĩa đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy vai trò của người cao tuổi một cách hợp tình, hợp lý. Với Người, dù già hay trẻ “Ai là người Việt Nam đều phải gánh vác một phần trách nhiệm” (10) và “…noi gương phụ lão nhà Trần trước họa giặc Nguyên xâm lấn, đã nhiệt liệt hô hào con em tham gia sự nghiệp cứu quốc” (11) thể hiện trách nhiệm của người cao tuổi đối với dân tộc, nêu cao tấm gương cống hiến cho cách mạng của họ. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, các bậc phụ lão nước ta tuổi cao nhưng sức không yếu, vì “Nước nhà lo các cụ cùng phải lo. Nước nhà vui các cụ đều cùng được vui” (12) và khi “Phụ lão hô, nhân dân hưởng ứng. Phụ lão làm, nhân dân làm theo” (13). Do đó, Người tặng 4 câu thơ để nói lên vai trò, tinh thần cần có của người cao tuổi: “Càng già, càng dẻo lại càng dai/ Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai/ Đôn đốc con em làm nhiệm vụ/ Vuốt râu mừng xã hội tương lai” (14).
Đến khi đất nước phát động và triển khai phong trào bình dân học vụ, các bậc phụ lão cũng đóng góp công sức không nhỏ trong việc “đôn đốc và giúp đỡ đồng bào” (15). Người khen các cụ: “Trên mặt trận văn hóa, các cụ đã góp sức nhiều trong phong trào xóa nạn mù chữ và bổ túc văn hóa. Các cụ đã tổ chức những nhóm đỡ đầu nhà trường và ngày nào cũng lo đôn đốc con cháu đi học” (16) thậm chí có những cụ đã quyên cả “áo thọ” của mình cho các lớp học đóng bàn ghế, có cụ đã bán cả cái nhà lấy tiền để giúp xây dựng nhà trường… Hơn nữa, để phát huy tối đa vai trò của người cao tuổi, Hồ Chí Minh còn yêu cầu Đảng và Chính phủ phải chăm lo, giúp họ tiếp tục học tập, tiếp tục thích nghi với thời cuộc vì “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ được là thoái bộ […] mà lạc hậu thì bị đào thải, tự mình đào thải mình” (17). Là một cá nhân trong cộng đồng người cao tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tự nêu gương và khuyên nhủ: “Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng”(18) đồng thời, Người cũng kịch liệt phê phán những người tự cho mình là già và không còn muốn học tập hay những người không tạo điều kiện để người cao tuổi được tiếp tục học tập và tiến bộ.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về chăm lo cho người cao tuổi gắn với phát triển kinh tế bạc hiện nay
2.1. Bối cảnh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về chăm lo cho người cao tuổi gắn với phát triển kinh tế bạc hiện nay
Thực tế hiện nay, Việt Nam là 1 trong 10 quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới (19) điều này đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như: phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, thị trường lao động và dịch vụ y tế nhằm cải thiện tốt hơn nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng và hỗ trợ, trợ giúp tâm lý - xã hội cho người cao tuổi. Theo dữ liệu của Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê), năm 2019 người cao tuổi nước ta đã chiếm 11,86% dân số và dự báo đến năm 2049 sẽ tăng lên 26,1% (20) chứng tỏ giai đoạn “già hóa dân số” chuyển sang thời kỳ “dân số già” là xu thế không thể tránh khỏi, là điều tất yếu không thể đảo ngược.
Vì vậy, chủ trương phát triển kinh tế bạc (21) là nhu cầu cấp bách và là việc thiết thực nhất để tận dụng, phát huy nguồn lực “tóc bạc” hay “đầu bạc” một cách hiệu quả. Căn cứ tình hình thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta những năm gần đây đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối trực tiếp và liên quan đến người cao tuổi, như: Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội; Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;… Và gần đây nhất, Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, đã chỉ rõ: “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân cần được thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và hành động; đồng thời, đổi mới toàn diện với các giải pháp đột phá để hướng đến mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, ý thức bảo vệ sức khỏe và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới”(22).
Tuy nhiên, trước thực trạng diễn biến rất nhanh và phức tạp trong nền kinh tế quốc dân, một số công tác vẫn còn hạn chế, bất cập, chưa sẵn sàng cho phát triển kinh tế bạc:
Một là, hiện nay, “kinh tế bạc” là khái niệm còn khá xa lạ đối với nhiều cá nhân, tổ chức, nên việc hoàn thiện thể chế, chính sách còn mơ hồ và chưa thống nhất, đồng bộ. Mặc dù, thực hiện các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ đã có Quyết định số 383/QĐ-TTg ngày 21 tháng 02 năm 2025, phê duyệt Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045, tuy nhiên việc phân công tổ chức các diễn đàn thúc đẩy phát triển “nền kinh tế bạc” vẫn chưa ở quy mô làm cho “kinh tế bạc” trở thành công việc chung, chưa mang tính “chiến lược quốc gia” đúng với tính chất, quy mô đề ra.
Hai là, các chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay vẫn chưa quan tâm đúng mức việc đẩy mạnh phát triển thị trường và hạ tầng dịch vụ của ngành kinh tế chăm sóc. Chính vì Đảng và Nhà nước ta chưa đặt trọng tâm phát triển kinh tế bạc trở thành “chiến lược quốc gia”, nên cơ cấu ngành kinh tế chưa có sự chuyển dịch, đặc biệt là chuyển dịch trong ngành kinh tế chăm sóc. Thực tế này bắt nguồn từ việc chúng ta chưa thực sự nhận thức sâu sắc vị trí quan trọng của ngành kinh tế chăm sóc trong nền kinh tế quốc dân. Hơn nữa, y tế cơ sở chưa cung cấp đầy đủ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu; y tế dự phòng chưa được đầu tư thỏa đáng, kịp thời; nguồn nhân lực y tế chưa đáp ứng về chuyên môn, số lượng và chế độ đãi ngộ còn nhiều điểm hạn chế; chưa tạo ra được niềm tin và điều kiện cho người cao tuổi được chăm sóc sức khỏe thường xuyên, kịp thời.
Ba là, việc tận dụng phương thức hợp tác công - tư trong việc triển khai hưu trí “hai tầng” còn nhiều hạn chế. Hiện nay, chế độ hưu trí ở nước ta chủ yếu được chi trả thông qua các hình thức như: Bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm hưu trí bổ sung và trợ cấp hưu trí xã hội. Trong đó, bảo hiểm hưu trí bổ sung được bổ sung là một hình thức chi trả bảo hiểm hưu trí mới trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, tuy nhiên đến nay vẫn chưa được triển khai hiệu quả trong thực tiễn; việc cụ thể hóa từ tư duy lập pháp sang ban hành chính sách, pháp luật trong việc triển khai hưu trí chưa thực sự hiệu quả; việc xây dựng khối đoàn kết “công - tư” trong bảo đảm hưu trí cho người lao động cao tuổi hoặc sắp hết tuổi lao động còn hạn chế.
Bốn là, phương thức phát huy vai trò của người cao tuổi, đặc biệt là tri thức, kinh nghiệm, vốn sống của người cao tuổi hiện nay chưa thực sự hiệu quả. Hiện nay, ở Việt Nam, số lượng người cao tuổi đang tăng lên đáng kể, chúng ta đang phải đối mặt với nguy cơ già hóa dân số, dẫn đến những thách thức không nhỏ đối với nguồn lao động. Tuy nhiên, nó chỉ thật sự là nguy cơ, là thách thức khi chúng ta coi người cao tuổi là chủ thể không còn khả năng lao động hay những người hết thời kỳ cống hiến, là đối tượng cần được chăm sóc, hỗ trợ. Ngược lại, nếu chúng ta nhìn nhận họ là một nguồn lực xã hội đặc biệt cần phát huy và có những phương thức phù hợp để tận dụng “Tài nguyên tri thức” và kinh nghiệm thực tiễn của người cao tuổi ngay từ bây giờ thì đó sẽ là một bước đi mang tính chiến lược dài hạn giúp Việt Nam ứng phó với các nguy cơ kể trên.
Năm là, thực tế hiện nay, người cao tuổi đang dần tụt lại phía sau, không còn theo kịp và khó thích ứng với sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ, phát triển bền vững, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nguyên từ những chuyển biến quá nhanh của thời đại, khiến việc trợ giúp người cao tuổi theo kịp chuyển biến của xã hội còn khó khăn, hạn chế. Đồng thời, nhận thức của người cao tuổi về chuyển đổi số và chuyển đổi xanh còn nhiều hạn chế. Do đó, Đảng và Nhà nước cần có những cơ chế phù hợp để hỗ trợ người cao tuổi thích ứng với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và coi đây không chỉ là một hành động nhân văn mà còn là yêu cầu cấp bách để đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển của thời đại.
2.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng về chăm lo cho người cao tuổi gắn với phát triển kinh tế bạc hiện nay.
Thực hiện các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Chiến lược quốc gia về Người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 cần có những điều chỉnh phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay, trong đó xác định phát triển “nền kinh tế bạc” không chỉ là trách nhiệm của Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam, mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn dân; kinh tế bạc còn góp phần là một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, gắn chặt người cao tuổi là đối tượng cần được chăm sóc đặc biệt, ưu tiên, ưu đãi nhiều trong chính sách. Do đó, Chính phủ cần thiết định chính sách tổng thể và cơ chế điều phối liên ngành phục vụ cho người cao tuổi, khung pháp lý phải được chuẩn hóa tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và cơ chế giám sát chất lượng sản phẩm, dịch vụ dành cho người cao tuổi.
Xây dựng nội dung phát triển “nền kinh tế bạc” không chỉ giới hạn trong dưỡng lão mà ngược lại, cần mở rộng phát triển, bao phủ các hoạt động mang tính phục vụ, đáp ứng các nhu cầu đời sống xã hội của người cao tuổi, trải rộng từ y tế, tiêu dùng, học tập, thích nghi với thời đại, mong muốn phát huy vai trò và việc làm; xây dựng, kiến thiết một hệ sinh thái liên ngành, là nơi người cao tuổi có vai trò trung tâm của chiến lược phát triển bao trùm, trong đó quan trọng là lĩnh vực kinh tế chăm sóc(23).
Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp tại Nghị quyết số 42-NQ/TW về đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội và Nghị quyết số 72-NQ/TW về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương cần chủ động tuyên truyền, giáo dục cho toàn xã hội thống nhất nhận thức từ việc xem chăm sóc xã hội là hoạt động nhân đạo, phúc lợi thụ động sang việc thừa nhận đây là một ngành kinh tế dịch vụ thiết yếu và tiềm năng. Nếu Nghị quyết số 42-NQ/TW xây dựng một hệ thống an sinh đa tầng, hiện đại, tạo nền tảng vững chắc về an sinh cho người cao tuổi, thì Nghị quyết số 72-NQ/TW lại tập trung vào việc hiện đại hóa hạ tầng y tế và cá nhân hóa dịch vụ chăm sóc thông qua hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân. Chính sự thống nhất trong nhận thức và hành động theo tinh thần của hai nghị quyết sẽ giúp xã hội nhìn nhận việc “già hóa dân số” không phải là gánh nặng, mà là cơ hội để phát triển một ngành kinh tế chăm sóc nhân văn, hiện đại, đảm bảo quyền được sống vui, sống khỏe và sống có ích của người cao tuổi trong kỷ nguyên mới.
Trước thực tế xu thế già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay, Đảng và Nhà nước cần chú trọng hơn đối với việc phát triển thị trường và hạ tầng dịch vụ của ngành kinh tế chăm sóc, nhất là với người cao tuổi bằng việc ban hành các chỉ thị, nghị quyết phù hợp nhằm tạo ra những “cú hích” chiến lược, làm thay đổi căn bản nhận thức của xã hội về ngành kinh tế chăm sóc, đặc biệt là đối với người cao tuổi; Khơi thông nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân vào hệ thống viện dưỡng lão, trung tâm phục hồi chức năng mà còn thúc đẩy quá trình chuyên nghiệp hóa đội ngũ nhân lực chăm sóc; Phát triển thị trường kinh tế chăm sóc trở thành phổ biến, đa dạng; Tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động trong nền kinh tế chăm sóc, đặt mục tiêu phục vụ lợi ích người cao tuổi, trẻ em và phụ nữ lên cao nhất, không để xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật, lạm dụng, trục lợi gây bức xúc trong dư luận; Hình thành một hệ sinh thái đồng bộ từ hạ tầng số đến dịch vụ y tế tại nhà, tập trung phát triển công nghệ, thiết bị y tế, thuốc men; Đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, thiết bị, tận dụng các nguyên liệu, tài nguyên trong nước để phát triển hạ tầng cho ngành kinh tế chăm sóc…
Thực hiện tốt, đồng bộ các giải pháp tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, mở rộng thí điểm hợp tác công tư trong hưu trí “hai tầng”, thúc đẩy hình thành thị trường dịch vụ hưu trí, trong đó: Tầng thứ nhất (bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện) được Nhà nước bảo đảm và tầng thứ hai (bảo hiểm hưu trí bổ sung) do khu vực tư nhân phát triển, Nhà nước tham gia quản lý, giám sát thực hiện. Đặc biệt, tăng cường thiết định chính sách kích thích tham gia bảo hiểm xã hội hai tầng để sao cho bảo hiểm hưu trí phải là quyền lợi, không trở thành gánh nặng tài chính. Đồng thời, Nhà nước cần có những chính sách phù hợp để khuyến khích các công ty bảo hiểm, tài chính hoặc người sử dụng lao động là chủ thể chính phát triển bảo hiểm hưu trí bổ sung nhằm giúp tầng lớp cao tuổi trung lưu chủ động tài chính, giảm gánh nặng lương hưu trong tương lai; tạo cơ chế ưu đãi hoặc giảm trừ thuế thu nhập cá nhân cho người cao tuổi chủ động tham gia hưu trí hai tầng, tạo động lực mở rộng thị trường hưu trí và thúc đẩy nền kinh tế bạc bền vững.
Phát huy vai trò của người cao tuổi, nâng cao sức mạnh “cây cao bóng cả” hay “Tuổi cao chí khí càng cao” không chỉ là sự tri ân mà còn là cách tận dụng nguồn lực trí tuệ và kinh nghiệm, vốn sống vô giá cho xã hội. Thực hiện đầy đủ, sâu sắc các giải pháp của Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới, trong nền kinh tế tri thức, kinh nghiệm thực tiễn của người cao tuổi cũng được coi là một loại tài sản vô hình nhưng to lớn, vì vậy, Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội có thể nghiên cứu tận dụng sức lao động thông qua xây dựng các “ngân hàng” kinh nghiệm hay các hội đồng tư vấn với các chuyên gia, nghệ nhân hưu trí, cựu giáo chức, cựu chiến binh… giúp trao truyền và tiếp nối dòng chảy trí tuệ giữa các thế hệ. Khi kinh nghiệm và trí tuệ của người cao tuổi được khai thác đúng cách, họ không còn là gánh nặng mà trở thành điểm tựa vững chắc, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia.
Thực hiện phối hợp các giải pháp giữa Nghị quyết số 24-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW với Nghị quyết số 71-NQ/TW nhằm tăng cường trợ giúp, hỗ trợ người cao tuổi cập nhật và thích nghi với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đồng thời tuyên truyền, phổ biến cho người cao tuổi về xu thế tất yếu của chuyển đổi xanh, chuyển đổi số để giúp họ chủ động tham gia thích nghi trước sự thay đổi trong bối cảnh mới.
Để sức mạnh của người cao tuổi không bị cô lập, đồng thời không để chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trở thành “điểm mù” của người cao tuổi, cần thúc đẩy các mô hình câu lạc bộ liên kết các thể hệ với sự tham gia của cả thế hệ trẻ và người cao tuổi trong sự tương tác hai chiều. Trong đó, người cao tuổi truyền dạy cho thế hệ trẻ các kỹ năng sống, nghề thủ công truyền thống, nghệ thuật dân gian…; ngược lại, thế hệ trẻ hỗ trợ người già tiếp cận với công nghệ số và các tiện ích hiện đại. Đồng thời, quản lý ngành kinh tế chăm sóc, yêu cầu trợ giúp người cao tuổi thích nghi với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Nghiên cứu các tài liệu tập huấn, hỗ trợ người cao tuổi sử dụng các kỹ năng số trong học tập, giảng dạy, truyền nghề, sản xuất kinh doanh… (hoạt động tham gia lao động) giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của họ; hỗ trợ giải thích, phổ biến cho người cao tuổi về việc bảo vệ môi trường, tận dụng môi trường để tham gia vào hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực phát triển bền vững.
...................................
(*) Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(**) Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 233.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 691.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 691.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 691.
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 229.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 232.
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 241.
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 518.
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 5.
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 230.
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 230.
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 232.
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 233.
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 692.
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 582.
(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 692.
(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 333.
(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 113
(19) Hà Minh: Nghịch lí tuổi thọ tăng cao nhưng số năm sống khỏe mạnh lại thấp, 2022, https://tienphong.vn/nghich-li-tuoi-tho-tang-cao-nhung-so-nam-song-khoe-manh-lai-thap-post1460748.tpo.
(20) Xem: Tổng cục Thống kê: Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2019 - 2069, Hà Nội, 2020, https://vietnam.unfpa.org/vi/publications/du-bao-dan-so-viet-nam-giai-doan-2019-2069.
(21) Kinh tế bạc là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, là tổng hợp tất cả các hoạt động kinh tế liên quan đến phục vụ nhu cầu đời sống xã hội của người cao tuổi (từ 50 tuổi trở lên). Xem: European Commission: The Silver Economy, 2018, https://publications.europa.eu/resource/cellar/2dca9276-3ec5-11e8-b5fe-01aa75ed71a1.0002.01/DOC_1.
(22) Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09-9-2025, của Bộ Chính trị, “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-72-nqtw-ngay-0992025-cua-bo-chinh-tri-ve-mot-so-giai-phap-dot-pha-tang-cuong-bao-ve-cham-soc-va-nang-11780.