Khắc phục những hạn chế, bất cập
Trình bày Tờ trình tóm tắt về dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Lương Tam Quang cho biết, dự thảo Luật trình Quốc hội gồm 41 Điều, được chia thành 07 Chương, quy định nhiều nội dung trọng tâm.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang trình bày Tờ trình về về dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia |
Cụ thể, Dự thảo Luật quy định công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia gồm 03 nhóm:
Nhóm 1: Công trình trọng điểm về an ninh quốc gia là các công trình thuộc khu vực trọng yếu theo quy định của pháp luật về cảnh vệ.
Nhóm 2: Công trình an ninh, khu an ninh là công trình, khu vực do lực lượng Công an nhân dân quản lý, sử dụng phục vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Theo chức năng nhiệm vụ, mục đích sử dụng, công trình an ninh và khu an ninh được phân thành 03 loại.
Nhóm 3: Công trình quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia là công trình thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các cơ quan, tổ chức, địa phương, trừ các công trình do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quản lý. Theo tính chất quan trọng và yêu cầu bảo vệ, công trình quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia được phân thành 03 loại. Đồng thời, phân cấp thẩm quyền quyết định đưa vào Danh mục công trình liên quan đến an ninh quốc gia cho Thủ tướng Chính phủ (đối với công trình loại I), Bộ trưởng Bộ Công an (đối với công trình loại II), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với công trình loại III).
Về các biện pháp bảo vệ, đối với công trình trọng điểm về an ninh quốc gia và công trình quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia, dự thảo Luật quy định theo hướng dẫn chiếu đến quy định của pháp luật chuyên ngành.
Đối với công trình an ninh, khu an ninh, quy định việc xác định phạm vi bảo vệ và biện pháp bảo vệ trên cơ sở tham khảo và bảo đảm tương đồng với quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.
Về lực lượng bảo vệ, dự thảo quy định lực lượng bảo vệ của Bộ Công an, lực lượng bảo vệ của cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng công trình; không quy định về lực lượng của Bộ Quốc phòng vì đã được điều chỉnh tại Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.
Đồng thời, quy định về quan hệ phối hợp giữa các lực lượng bảo vệ, trong đó có trách nhiệm phối hợp giữa lực lượng bảo vệ của cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng công trình với các lực lượng Công an, Quân đội và các lực lượng khác có liên quan.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật còn quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo vệ công trình; hợp tác quốc tế trong bảo vệ công trình; nội dung và trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.
Hoàn thiện quy định về tiêu chí xác định và biện pháp bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia
Đại diện cơ quan thẩm tra dự thảo luật, ông Lê Tấn Tới, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An Ninh và Đối ngoại của Quốc hội (UBQPANĐN) đánh giá, nội dung dự thảo Luật phù hợp với Hiến pháp năm 2013, cơ bản bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan.
Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị tiếp tục rà soát quy định về chế độ, chính sách đối với lực lượng bảo vệ cho phù hợp với Kết luận số 226-KL/TW; luật hóa cụ thể hơn các tiêu chí, điều kiện hạn chế quyền công dân tại Điều 20 và khoản 5 Điều 10; tiếp tục rà soát để bảo đảm thống nhất với các luật chuyên ngành liên quan, bảo đảm phù hợp với Công ước Luật Biển năm 1982; đồng thời đánh giá kỹ tính khả thi về nguồn lực, nhân lực và chi phí vận hành hệ thống giám sát kỹ thuật.
![]() |
| Các đại biểu tham dự phiến họp tại Hội trường sáng ngày 26/10 |
Hồ sơ dự án Luật được Chính phủ chuẩn bị đầy đủ theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trình tự thủ tục đúng quy định, đủ điều kiện trình Quốc hội cho ý kiến. Bố cục gồm 07 chương, 41 điều là phù hợp. Tuy nhiên có ý kiến đề nghị bổ sung điều khoản riêng về đối tượng áp dụng; rà soát sắp xếp lại các điều quy định về hợp tác quốc tế, quản lý nhà nước; bảo đảm cân đối dung lượng các điều quy định chế độ bảo vệ giữa các nhóm công trình.
Về biện pháp bảo vệ công trình trọng điểm về an ninh quốc gia, UBQPANĐN đề nghị, luật hóa cụ thể tiêu chí “đặc biệt cấp thiết”, phạm vi, thời hạn, đầu mối chỉ huy, cơ chế báo cáo và quy trình chấm dứt áp dụng; tham khảo Luật Tình trạng khẩn cấp quy định Thủ tướng Chính phủ chỉ áp dụng sau khi được cấp có thẩm quyền đồng ý; rà soát xây dựng nguyên tắc chung tại Chương I để quản lý thống nhất các trường hợp “chưa được pháp luật quy định” trong toàn bộ dự thảo Luật.
Về chuyển mục đích sử dụng công trình an ninh, khu an ninh, UBQPANĐN cơ bản nhất trí với nguyên tắc, trường hợp và thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng đã được quy định trong dự thảo Luật, bên cạnh đó cũng đề nghị: việc bố trí quỹ đất mới phải trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất an ninh và quy hoạch cấp tỉnh theo khoản 4 Điều 68 Luật Đất đai năm 2024; bảo đảm thống nhất về thứ tự ưu tiên áp dụng pháp luật bồi thường, hỗ trợ với Luật Đất đai.
Về chế độ bảo vệ đối với khu vực cấm, khu vực bảo vệ công trình an ninh, khu an ninh, Điều 20 dự thảo Luật quy định nhiều nội dung hạn chế quyền tự do đi lại, cư trú, ghi âm, ghi hình... nhưng lại giao Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết; đề nghị quy định cụ thể ngay trong Luật các tiêu chí, điều kiện áp dụng biện pháp hạn chế quyền (đi lại, cư trú, ghi âm, ghi hình); bổ sung nguyên tắc giám sát kỹ thuật (thu thập đúng mục đích, thời hạn lưu giữ) bảo đảm an toàn dữ liệu cá nhân.
UBQPANĐN đề nghị: quy định biện pháp áp dụng đối với khu vực bảo vệ, hành lang bảo vệ phân hóa theo từng loại công trình; quy định khung giới hạn tối đa cho khu vực, hành lang bảo vệ, thể hiện trên bản đồ và cơ sở dữ liệu đất đai; khẳng định thẩm quyền cho phép cư trú, sản xuất trong hành lang bảo vệ phải thuộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đơn vị quản lý công trình (kể cả doanh nghiệp) chỉ tham gia ý kiến về kỹ thuật.
Về lực lượng bảo vệ và chế độ, chính sách, UBQPANĐN cho rằng, cần phân định rõ phạm vi: Lực lượng Công an làm nòng cốt bảo vệ công trình loại I, công trình an ninh; lực lượng của cơ quan, doanh nghiệp trực tiếp bảo vệ công trình loại II, loại III; quy định chế độ, chính sách theo hướng dẫn chiếu pháp luật chuyên ngành; quy định ưu đãi đặc thù (phụ cấp độc hại, nguy hiểm...) cho lực lượng bảo vệ tại biên giới, hải đảo, vùng hẻo lánh.


