Có nhiều tình tiết mới để tái thẩm!
Đơn thư bạn đọc 16/02/2022 17:10
Một số hình ảnh về tài sản của Công ty TNHH Điều dưỡng du lịch Vũng Tàu |
Ông Lô Chiu Hồng, sinh ngày 15/7/1957, Chủ tịch Hội đồng Thành viên, đồng thời là người đại diện theo pháp luật của Công ty Medicoast; địa chỉ 183 Nguyễn An Ninh, phường Thắng Nhì TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Giấy Chứng nhận Đăng ký kinh doanh, mã số Doanh nghiệp: 3500542655 do Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (BR-VT) đăng ký lần đầu ngày 24/2/2010, đăng ký thay đổi lần thứ 6 ngày 14/9/2020.
Ông Lô Chiu Hồng có đơn (kèm theo hồ sơ vụ án Kinh doanh thương mại ở TP Vũng Tàu) gửi Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội; Chánh án TAND Tối cao; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao và Tạp chí Người cao tuổi, với đề nghị xem xét theo thủ tục tái thẩm đối với Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 53/2013/QĐST –KDTM ngày 12/8/2013 của TAND TP Vũng Tàu (Sau đây gọi là Quyết định số 53), vì có dấu hiệu vi phạm Bộ luật tố tụng dân sự trong giải quyết vụ án Kinh Doanh Thương Mại, gây thất thoát vốn góp và tài sản Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của công dân, doanh nghiệp.
Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 53/2013/QĐST –KDTM ngày 12/8/2013 của TAND TP Vũng Tàu |
Lí do ông Hồng đề nghị cụ thể như sau:
Có phần vốn góp của Nhà nước tại Công ty TNHH Điều dưỡng Du lịch Vũng Tàu (Công ty Medicoast).
Công ty Medicoast, địa chỉ: 165 Thùy Vân, phường Thắng Tam, TP Vũng Tàu, tỉnh BR-VT, có Chủ tịch HĐTV là bà Nguyễn Thị Mai.
Công ty Medicoast đăng ký thay đổi lần 3: Ngày 27/8/2012; mã số doanh nghiệp: 3500542655; vốn điều lệ: 35 tỷ 450 triệu đồng; có hai doanh nghiệp và một người dân có góp vốn tham gia từ năm 2002, gồm: Công ty CP Du lịch tỉnh BR-VT (ông Trần Tuấn Việt đại diện), tỷ lệ vốn góp: 7,12%; bà Nguyễn Thị Hải, tỷ lệ vốn góp: 2,13% và Công ty TNHH An Đức (bà Nguyễn Thị Mai đại diện), tỷ lệ vốn góp: 90,75%.
Công ty Medicoast đăng ký lần đầu ngày 24/2/2010; đăng ký thay đổi lần 3: Ngày 27/8/2012 |
Công ty CP Du lịch tỉnh BR-VT là doanh nghiệp 100% vốn của Nhà nước; là đại diện phần vốn của Nhà nước tại Công ty Medicoast. |
Thứ hai: Nhiều dấu hiệu sai phạm về việc TAND TP Vũng Tàu tổ chức hòa giải và ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.
Năm 2010, Công ty Medicost ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP Phương Nam (nay là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Sacombank), số tiền vay là 45.000.000.000 đồng. Đến năm 2011, Ngân hàng TMCP Phương Nam yêu cầu Medicost ký hợp đồng vay vốn với số tiền là 60.000.000.000 đồng. Mục đích vay thêm 15 tỷ đồng là dùng để trả nợ lãi cho khoản nợ 45 tỷ đồng nói trên.
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phương Nam khởi kiện Bị đơn: Medicost ra TAND TP Vũng Tàu để thu hồi nợ (vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 85/2013/TLST-KDTM ngày 12/7/2013).
Ngày 2/8/2013, tại TAND TP Vũng Tàu, Ngân hàng TMCP Phương Nam và Medicost tiến hành hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ án; Thẩm phán, Chủ trì phiên hòa giải là ông Nguyễn Thanh Sơn.
Biên bản hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ án, lập ngày 2/8/2013 tại TAND TP Vũng Tàu |
Tuy nhiên, có những sai sót thể hiện trong quá trình giải quyết vụ án trên.
Có dấu hiệu về thu thập chứng minh và chứng cứ chưa đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo Nghị quyết số 04/2012/HĐ-TP ngày 3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao (Có hiệu lực 1/7/2013) về “Chứng minh và chứng cứ”, khi giải quyết vụ án dân sự, kinh doanh, thương mại, cho thấy: Toà án thu thập chứng cứ không đúng quy định, không tiến hành đo đạc, thẩm định tài sản tranh chấp theo đúng quy định tại chương VII của Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS); thẩm phán Nguyễn Thanh Sơn xác định không đúng, không đầy đủ, xác định sai tư cách, bỏ sót người tham gia tố tụng trong vụ ; và
Có dấu hiệu sai phạm quy định về hòa giải trong tố tụng dân sự và ra Quyết định số 53.
Quyết định số 53 có nội dung (trích): “Căn cứ khoản 2 Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ biên bản hòa giải ngày 2 tháng 8 năm 2013. Lập biên bản hòa giải thành do các đương sự đã thỏa thuận về việc giải quyết toàn bộ vụ án, như sau:
Tính đến ngày 6/6/2013, Công ty Medicost còn nợ Ngân hàng Phương Nam số tiền là 83.009.426.083 đồng.
Nay Công ty Medicost có trách nhiệm thanh toán hết số tiền nợ trên và tiền lãi suất phát sinh theo Họp đồng tín dụng số 007/05/11TV/HĐTD ngày 9/5/2011 kể từ ngày 7/6/2013 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
Trong trường hợp Công ty Medicost không có khả năng thanh toán nợ thì Ngân hàng TMCP Phương Nam được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ; tài sản thế chấp là QSDĐ diện tích đất 8.189,2 m2 tại thửa số 29, tờ bản đồ số 65, phường 02, TP Vũng Tàu và Quyền sở hữu công trình xây dựng tọa lạc tại địa chỉ 165 Thùy Vân, phường Thắng Tam, TP Vũng Tàu theo Hợp đồng thế chấp số 008/05/11TC/HĐTC ngày 9/5/2011.
Về án phí sơ thẩm: Công ty Medicost, Ngân hàng TMCP Phương Nam mỗi bên phải nộp số tiền là: 47.752.356 đồng.
Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, nếu đương sự nào có thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận trên đây, thì phải làm văn bản gửỉ cho Tòa án. Nếu hết thời hạn này mà không có đương sự nào thay đối ý kiến thì Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và Quyết định có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.”
Thẩm phán Nguyễn Thanh Sơn kí, ban hành Quyết định số 53, căn cứ biên bản hòa giải thành ngày 2/8/2013 về việc các đương sự thỏa thuận giải quyết toàn bộ vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 85/2013/TLST-KDTM ngày 12/7/2013.
Tuy nhiên, từ việc ban hành Quyết định số 53, thể hiện nhiều dấu hiệu sai phạm. Cụ thể:
Một, theo quy định tại Điều 183 BLTTDS 2004: Trước khi tiến hành phiên hoà giải, Toà án phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hoà giải, nội dung các vấn đề cần hoà giải.
Tuy nhiên, Thẩm phán Nguyễn Thanh Sơn tổ chức tiến hành phiên hoà giải ngày 2/8/2013, mà không thực hiện Thông báo về phiên hoà giải cho đương sự.
Hai, căn cứ Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, quy định tại Điều 15. Những vụ án dân sự không được hòa giải quy định tại Điều 181 của Bộ luật TTDS:
“Tài sản của Nhà nước” được hiểu là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước quy định tại Điều 200 của Bộ luật dân sự năm 2005 và được điều chỉnh theo các quy định tại mục 1 Chương XIII của Bộ luật Dân sự năm 2005.
“Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước” là trường hợp tài sản của Nhà nước bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạm nghĩa vụ dân sự,... gây ra và người được giao chủ sở hữu đối với tài sản Nhà nước đó có yêu cầu đòi bồi thường.
Khi thi hành quy định tại khoản 1 Điều 181 của Bộ luật TTDS năm 2004 (Điều 181. Những vụ án dân sự không được hoà giải: 1. Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước), cần phân biệt:
a) Trường hợp tài sản của Nhà nước được giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào doanh nghiệp Nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền, thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến loại tài sản này, Toà án không được hoà giải để các bên đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
b) Trường hợp tài sản của Nhà nước được Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản đó, Toà án tiến hành hoà giải để các bên đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo thủ tục chung.”
Đối chiếu quy định trên đây với nội dung vụ án, cho thấy:
Như đã nói trên, Bị đơn là Công ty Medicoast có phần vốn góp của Nhà nước. Cho nên những phát sinh tranh chấp về vốn Nhà nước trong Công ty Medicoast, đều không được tòa án tổ chức hòa giải (điểm a khoản 1 Điều 181 của Bộ luật TTDS năm 2004 nói trên).
Thực tế vụ án trên, chỉ giải quyết yêu cầu của Nguyên đơn (Ngân hàng TMCP Phương Nam) đòi lại tiền cho Bị đơn vay, chứ không phải là giải quyết “yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản” đối với “tài sản của Nhà nước được Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó trong hoạt động sản xuất, kinh doanh”. Do đó, Toà án không thể “tiến hành hoà giải để các bên đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo thủ tục chung ” (điểm b khoản 1 Điều 181 của Bộ luật TTDS năm 2004 nói trên).
Nguyên đơn (Ngân hàng TMCP Phương Nam) chỉ đòi lại tiền cho Bị đơn vay, chứ không phải là giải quyết “yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản” |
Xin nói rõ thêm: Thẩm phán Nguyễn Thanh Sơn giải quyết Vụ án dân sự khi tiến hành hòa giải, để thỏa thuận xử lý tài sản được các bên thỏa thuận xử lý để thực hiện nghĩa vụ là tài sản chung của nhiều chủ sở hữu, người sử dụng tài sản hoặc trong khối tài sản này có tài sản của người thứ ba là tài sản có vốn góp của Nhà nước. Trong khi pháp luật không thừa nhận thỏa thuận của các bên vì tính chất của loại tài sản này thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu.
Do đó, việc thỏa thuận tại phiên hoà giải nói trên đã gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. Vụ án trên, chỉ có thể được giải quyết bằng phán quyết của Tòa án thông qua phiên tòa xét xử.
Rõ ràng việc Thẩm phán Nguyễn Thanh Sơn ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; ghi nhận các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc xử lý tài sản là bất động sản, là tài sản được các bên thỏa thuận xử lý để thực hiện nghĩa vụ là tài sản chung của nhiều chủ sở hữu, người sử dụng tài sản và trong khối tài sản này có tài sản của người thứ ba (Nhà nước). Và Tòa án chỉ căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên và giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản, để công nhận sự thỏa thuận của các bên về việc xử lý tài sản, nên dẫn đến việc công nhận xử lý tài sản không đúng với thực tế (không đúng đối tượng thuộc thẩm quyền được xem xét hòa giải), làm cho không thể thi hành án được, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người thứ ba (Nhà nước), là thể hiện vi phạm quy định: Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được quy định tại khoản 1 Điều 181 của Bộ luật TTDS năm 2004.
Ba, Toà án TP Vũng Tàu không triệu tập đầy đủ các đương sự: Đại diện Công ty CP Du lịch tỉnh BR-VT và bà Nguyễn Thị Hải là hai thành viên của Công ty Medicoast, không được tham gia hòa giải. Tại Biên bản hòa giải ngày 2/8/2013 thể hiện chỉ có người đại diện Công ty Medicoast là bà Nguyễn Thị Mai, Chủ tịch Hội đồng thành viên. Trong khi người đại diện theo pháp luật (bà Nguyễn Thị Mai không có giấy ủy quyền của Hội đồng thành viên Công ty Medicoast). Do vậy, nếu là trường hợp được phép tổ chức hòa giải, thì Toà án không thể giải quyết vụ án dân sự trong khi không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 182 của Bộ luật TTDS; và việc Thẩm phán Nguyễn Thanh Sơn còn ký luôn Quyết định số 53, là không có cơ sở.
Mặt khác, Thẩm phán Sơn biết rõ quy định tại Điều 184 của Bộ luật TTDS năm 2004: Toà án phải triệu tập tất cả những người có liên quan, tất cả các đương sư đến việc giải quyết vụ án quy định tại khoản 3 Điều 64 và Điều 184 của Bộ luật TTDS tham dự phiên hoà giải.
Bốn, có sai sót không mời Viện Kiểm sát TP Vũng Tàu để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật trong tố tụng dân sự (Viện Kiểm sát TP Vũng Tàu không tham gia phiên hòa giải ngày 2/8/2013).
Căn cứ Bộ luật TTDS có hiệu lực thi hành ngày 1/1/2012, Viện Kiểm sát bắt buộc phải tham gia những phiên tòa khi giải quyết vụ án trên, để bảo vệ tài sản công, lợi ích công cộng. Sự tham gia của Viện Kiểm sát trong những trường hợp này có vai trò như là “luật sư của Nhà nước”, “luật sư công” để kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, đảm bảo tính khách quan, công bằng, dân chủ của các bên tham gia hòa giải ngày 2/8/2013, bảo vệ tài sản công và lợi ích công cộng đang là đối tượng tranh chấp trong vụ án.
Những vụ án dân sự có đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất, nhà ở. Những vụ án liên quan đến quyền sử dụng đất thường phức tạp, liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân. Việc tham gia của Viện Kiểm sát trong trường hợp này sẽ giúp cho Tòa án giải quyết vụ án được nhanh chóng, thuận lợi, bảo vệ kịp thời được công lý, quyền con người, quyền công dân, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Nhiều tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án:
Thứ nhất: Biên bản hòa giải ngày 2/8/2013 chỉ có 1 người đại diện Công ty Medicoast là bà Nguyễn Thị Mai, Chủ tịch HĐTV. Trong khi người đại diện theo pháp luật (bà Nguyễn Thị Mai không có giấy ủy quyền của Hội đồng thành viên Công ty Medicosat) và thời điểm ngày 22/4/2013 bà Mai không còn là Chủ tịch Hội đồng thành viên của Công ty Medicoast (theo quyết định tại bản án số 02/2018/KDTM-ST ngày 31/1/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT).
Trích Bản án số 02/2018/KDTM-ST ngày 31/1/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT |
Thứ hai: Về người đại diện theo pháp luật trong Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh của Công ty Medicoast.
Pháp luật quy định hạn chế những trường hợp không được làm người đại diện theo pháp luật tại Điều 75 Bộ luât TTDS năm 2004, hướng dẫn chi tiết Điều 75, Điều 22 Nghị quyết Số: 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luât TTDS đã được sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự nêu rõ: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 75 của Bộ luật TTDS người đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự, thì không được làm người đại diện theo pháp luật cho một đương sự khác trong cùng một vụ án mà quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự đó đối lập với nhau. Trong trường hợp này họ chỉ được làm người đại diện theo pháp luật cho đương sự mà chính họ đang là người đại diện theo pháp luật của đương sự đó trong vụ án.
Theo quy định tại Điều 183 Bộ luật TTDS năm 2004, trước khi tiến hành phiên hòa giải, Tòa án phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải, nội dung các vấn đề cần hòa giải. Nhưng thực tế TAND TP Vũng Tàu không thông báo triệu tập đương sự cho Công ty CP Du lịch tỉnh BR-VT và bà Nguyễn Thị Hải là hai Thành viên Công ty Medicoast, là những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, là thể hiện rõ ràng có vi phạm Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004.
Như vậy, Thẩm phán tiến hành hòa giải và việc hòa giải đã ảnh hưởng đến quyền, lợi, nghĩa vụ của các đương sự khác. Chính vì không được tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên Công ty CP Du lịch tỉnh BR-VT và bà Nguyễn Thị Hải không được biết về sự tồn tại của Quyết định số 53; không thực hiện được quyền kháng cáo của đương sự trong vụ án dân sự chính là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 184 Bộ luật TTDS mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt, việc thẩm phán ra quyết định công nhận có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt.
Thứ ba: Công ty CP Du lịch tỉnh BR-VT không được tham gia tố tụng và tham gia đấu giá tài sản; có dấu hiệu thất thoát vốn góp và tài sản của Nhà nước.
TAND TP Vũng Tàu và Chi cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu đã bác bỏ tư cách của những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong Công ty Medicoast. Vì không được tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên Công ty CP Du lịch tỉnh BR-VT và bà Nguyễn Thị Hải không được biết về sự tồn tại của Quyết định số 53; không thực hiện được quyền kháng cáo của mình và không biết đến việc Chi cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu đã ra Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 521/TB-THA ngày 15/11/2013 và Thông báo về việc cưỡng chế thi hành án số 200/QĐ-CCTHA ngày 5/5/2014, gây thất thoát vốn góp và tài sản của Nhà nước do Công ty CP Du lịch tỉnh BR-VT là người đại diên.
Đại diện Công ty Medicoast khiếu nại Thẩm phán Nguyễn Thanh Sơn ra Quyết định số 53 gây thất thoát vốn góp và tài sản của Nhà nước. |
Thứ tư: Thẩm phán xác định không đúng, không đầy đủ, xác định sai tư cách, bỏ sót người tham gia tố tụng trong vụ án dân sự.
Theo quy định tại Điều 56, Điều 61 Bộ luật TTDS 2004 Sửa đổi bổ sung năm 2011 và Điều 361, 369 Bộ luật TTDS 2004; phải đưa người thế chấp tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và xem xét trách nhiệm của người thế chấp, đối với hợp đồng thế chấp tài sản của người thứ ba để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự, khi giải quyết tranh chấp Hợp đồng tín dụng có tài sản bảo đảm Toà án không đưa người thế chấp tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không đúng với các quy định của pháp luật.
Thứ năm: Nội dung Biên bản hòa giải của TAND TP Vũng Tàu lập ngày 2/8/2013 thiếu chính xác, không khách quan.
Trong biên bản hòa giải có ghi phần trình bày của bị đơn và phần trình bày của nguyên đơn, hai bên có thỏa thuận đồng ý cho thời hạn 3 tháng trả nợ Ngân hàng. Như vậy việc lập biên bản hòa giải phải ghi rõ nội dung hai bên thỏa thuận trong quyết định. Nhưng Toà án lập biên bản hoà giải trong quyết định không ghi nội dung nêu trên là thể hiện thiếu chính xác, không đúng đắn khách quan khi giải quyết vụ án.
Thứ sáu: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có nội dung ghi không đúng với nội dung của biên bản hòa giải.
Cụ thể trong biên bản hòa giải ngày 2/8/2013, có nội dung ghi: “Đối với số tiền vay gốc 60.000.000.000đồng, Lãi phát sinh trong hạn 8.385.840.811đồng và lãi quá hạn 14.400.000.000đồng tổng cộng lãi 23.009.426.083 đồng , đến 6/6/2013 Tổng số tiền còn nợ Ngân hàng TMCP Phương Nam là 83.009.426.083 đồng.
Theo như nội dung trên thì nguyên đơn và bị đơn chỉ thống nhất với nhau là Công ty Medicoast phải trả cho Ngân hàng TMCP Phương Nam số tiền gốc và lãi là 83.009.426.083đồng các bên đương sự đã trình bày trong biên bản hòa giải, nhưng tại Quyết định số 53 lại không ghi rõ: “Đối với số tiền nợ gốc là 60.000.000.000đồng, lãi phát sinh đến 06/6/2013 là 23.009.426.083đồng”.
Lẽ ra khi lập biên bản hoà giải giữa các đương sự, Toà án phải ghi cụ thể nợ vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn bằng số tiền cụ thể rõ ràng , ghi vào quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự thì mới thể hiện tính chính xác khi ban hành quyết định tố tụng, việc làm này của Thẩm phán đã vi phạm mẫu số 09a ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao; dẫn đến việc đương sự cho rằng chưa đúng nội dung thỏa thuận về nợ vốn gốc và lãi trong biên bản hòa giải.
Trang 1 và trang 2 Biên bản hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ án, ngày 2/8/2013 tại TAND TP Vũng Tàu
Thứ bảy: Công nhận việc bà Nguyễn Thị Mai, Chủ tịch Hội đồng thành viên làm trái Điều lệ Công ty Medicoast.
Điều lệ Công ty Medicoast được lập trên những căn cứ: Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005; thỏa thuận của các thành viên tại Hợp đồng Liên doanh Liên kết Kinh tế số 10/HDLK ngày 25/2/2002 và các phụ kiện hợp đồng; Biên bản bản họp Hội đồng thành viên Công ty Medicoast số 06/BBIIĐTV ngày 19/9/2011.
Theo Điều 10 Điều lệ Công ty Medicoast: Cơ cấu tổ chức quản lý và người đại diện theo pháp luật của Công ty (Điều 46 Luật Doanh nghiệp): Cơ cấu tổ chức quản lý Công ty Medicoast có Hội Đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc. Người đại diện theo pháp luật của Công ty Medicoast là Chủ tịch Hội đồng thành viên. Người đại diện theo pháp luật nhiệm kỳ đầu tiên của Công ty là bà Nguyễn Thị Mai, Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Và theo Điều lệ Công ty tại Điều 11: Hội đồng thành viên (Điều 47 luật doanh nghiệp). Hội đồng thành viên gồm tất cả thành viên, là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty.
Hội đồng thành viên có các quyền và nghĩa vụ sau đây: “… Thông qua các hợp đồng ký kết liên kết với các đối tác Công ty khác; … Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ Công ty.”
Theo Điều lệ Công ty tại Điều 12: Chủ tịch Hội đồng thành viên (Điều 49 luật doanh nghiệp). Hội đồng thanh viên bầu một thành viên làm Chủ tịch. Chủ tịch hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc Công ty Medicoast. Chủ tịch Hội đồng thành viên có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
“ … Thay mặt Hội đồng thành viên ký các quyết định của Hội đồng thành viên. Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và điều lệ Công ty. … Việc sử dụng tài sản Công ty để trả nợ hay bán, phương thức bán, giá bán... đều do Hội đồng thành viên Công ty quyết định trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.”
Thế nhưng, tại Biên bản hòa giải (căn cứ để ban hành Quyết định số 53), có thể hiện bà Nguyễn Thị Mai, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Medicoast, đã tự ý thực hiện việc sử dụng tài sản Công ty để trả nợ hay bán, phương thức bán, giá bán..., trong khi việc này không do Hội đồng thành viên Công ty quyết định. Rõ ràng đây là việc làm trái Điều lệ Công ty Medicoast.
Trích Điều lệ Công ty Medicoast |
Nguyện vọng của người cao tuổi
Ông Lô Chiu Hồng, Chủ tịch Hội đồng Thành viên, đồng thời là người đại diện theo pháp luật của Công ty Medicoast, bức xúc: “Rõ ràng, việc thỏa thuận hòa giải thành tại TAND TP Vũng Tàu giữa Ngân hàng TMCP Phương Nam và Công ty Meddicost là hoàn toàn trái luật, sai về tố tụng khi Tòa án không đưa người có quyền nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Hải và Công ty CP Du lịch tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu – là công ty có 58,8 % vốn Nhà nước vào tham gia tố tụng nói chung và tham gia hòa giải nói riêng; và trái Điều lệ Công ty Medicoast. Việc thỏa thuận này đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của các bên liên quan.
Chính vì các lẽ trên đây, Công ty Medicost đã nộp đơn lần 1 đề nghị Giám đốc thẩm, có Giấy biên nhận số 831 ngày 11/4/2016 của TAND Cấp cao tại TP Hồ Chí Minh, nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết.
Nay, doanh nghiệp và người dân chúng tôi buộc phải có “Đơn đề nghị xem xét theo thủ tục tái thẩm” gửi đến Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội; Chánh án TAND Tối cao; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao và Tạp chí Người cao tuổi (Cơ quan ngôn luận của Hội Người cao tuổi Việt Nam); kính mong được lãnh đạo cơ quan có thẩm quyền xem xét giúp đỡ để có được Quyết định kháng nghị tái thẩm và Quyết định tái thẩm theo hướng hủy toàn bộ Quyết định số 53, vì có nhiều tình tiết mới nói trên theo quy định tại Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”.
“Đơn đề nghị xem xét theo thủ tục tái thẩm” của người cao tuổi - ông Lô Chiu Hồng gửi Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội; Chánh án TAND Tối cao; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao và Tạp chí Người cao tuổi |