Danh mục
THEO DÕI TRÊN: Facebook Youtube Tiktok
tien-toi-dai-hoi-vii
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 quy định chính sách trợ giúp xã hội. Nghị định này quy định về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; trợ giúp khẩn cấp và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.
+
aa
-

Nghị định nêu rõ, mức chuẩn trợ giúp xã hội là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc trẻ em và cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác (gọi chung là cơ sở trợ giúp xã hội) và các mức trợ giúp xã hội khác.

Tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 540.000 đồng/tháng
Tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 540.000 đồng/tháng

Đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng

Tại Điều 5 Nghị định quy định đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng bao gồm:

1. Trẻ em dưới 16 tuổi bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; Trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được; Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật; Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật; Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Người thuộc diện quy định tại khoản 1 nêu trên đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng mà đủ 16 tuổi nhưng đang học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn (trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục) thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học.

3. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.

4. Người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi (gọi chung là người đơn thân nghèo nuôi con).

Trường hợp người đơn thân nghèo nuôi con đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định tại khoản này, nhưng người con đó đủ 16 tuổi và đang tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn (trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục) thì người đơn thân nghèo nuôi con tiếp tục được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng cho đến khi người con kết thúc học.

Tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 540.000 đồng/tháng

5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây:

- Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng;

- Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

6. Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.

7. Trẻ em dưới 03 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, khoản 3 và khoản 6 nêu trên đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.

8. Người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.

Mức trợ cấp xã hội hằng tháng

1- Đối tượng quy định tại Điều 5 nêu trên được trợ cấp xã hội hằng tháng với mức bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng nhân với hệ số tương ứng quy định như sau:

a) Đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 5 nêu trên: Hệ số 2,5 đối với trường hợp dưới 04 tuổi; hệ số 1,5 đối với trường hợp từ đủ 04 tuổi trở lên.

b) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 5 nêu trên.

c) Đối với đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 5 nêu trên: Hệ số 2,5 đối với đối tượng dưới 04 tuổi; hệ số 2,0 đối với đối tượng từ đủ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi.

d) Đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 nêu trên: Hệ số 1,0 đối với mỗi một con đang nuôi.

đ) Đối với đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 5 nêu trên: Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 60 tuổi đến dưới 75 tuổi; hệ số 2,0 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 75 tuổi trở lên; hệ số 3,0 đối với đối tượng quy định tại điểm b khoản 5.

e) Đối với đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 5 nêu trên: Hệ số 2,0 đối với người khuyết tật đặc biệt nặng; hệ số 2,5 đối với trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng; hệ số 1,5 đối với người khuyết tật nặng; hệ số 2,0 đối với trẻ em khuyết tật nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật nặng.

g) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại khoản 7 và khoản 8 Điều 5 nêu trên.

2. Trường hợp đối tượng thuộc diện hưởng các mức theo các hệ số khác nhau quy định tại khoản 1 Điều này hoặc tại các văn bản khác nhau quy định về chế độ trợ giúp xã hội thì chỉ được hưởng một mức cao nhất. Riêng người đơn thân nghèo nuôi con là đối tượng quy định tại các khoản 5, khoản 6 và khoản 8 Điều 5 Nghị định này thì được hưởng cả chế độ đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 và chế độ đối với đối tượng quy định tại các khoản 5, khoản 6 và khoản 8 Điều 5 Nghị định này.

Theo Chinhphu
Tags: trợ giúp xã hội chính sách trợ giúp xã hội

Tin liên quan

Tin tức bạn quan tâm

Tăng cường nguồn lực thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm của người cao tuổi Lâm Đồng

Phát huy uy tín, kinh nghiệm và bản lĩnh, người cao tuổi (NCT) tỉnh Lâm Đồng ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Nhiều NCT vẫn tích cực tham gia công tác Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể và các hoạt động tại khu dân cư, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ngày càng vững mạnh.
Tăng cường nguồn lực thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

Đã quy tập 1.863 hài cốt liệt sĩ, đẩy nhanh xác định danh tính

Sau thời gian triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, tính đến ngày 22/8, các lực lượng đã tìm kiếm, quy tập được 1.863 hài cốt liệt sĩ, trong đó 839 hài cốt được tìm thấy trong nước, 174 hài cốt tại Lào và 850 hài cốt tại Campuchia.
Tăng cường nguồn lực thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

Quốc hội thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi): Khơi thông nguồn lực, tăng cường kiểm tra, giám sát…

Luật Dầu khí (sửa đổi) tập trung vào 5 nhóm chính sách lớn: Đơn giản hóa thủ tục và tăng phân quyền; hoàn thiện quy định về hợp đồng, hoạt động dầu khí; chính sách ưu đãi đầu tư; phát triển chuỗi giá trị, dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; xây dựng khung pháp lý về giảm phát thải, thu giữ và lưu trữ carbon.
Tăng cường nguồn lực thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

Hội Người cao tuổi tỉnh Lâm Đồng: Tư duy mới, không gian mới, động lực mới

Ngày 21/8, Hội Người cao tuổi (NCT) tỉnh Lâm Đồng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. Dự Đại hội có ông Nguyễn Lam, Phó Chủ tịch Thường trực Trung ương Hội NCT Việt Nam; ông Đinh Văn Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng cùng 264 đại biểu, đại diện hơn 240.000 hội viên NCT trong toàn tỉnh. Đây là kỳ Đại hội có ý nghĩa đặc biệt, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tổ chức và hoạt động Hội sau khi hợp nhất ba tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng và Đắk Nông, đồng thời đặt ra yêu cầu mới đối với công tác NCT trong không gian phát triển rộng lớn hơn.
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9