Xoay quanh chủ đề: “Làm gì để tranh thủ khai thác tiềm năng của NCT tham gia phát triển kinh tế bạc”, phóng viên Tạp chí Người cao tuổi có cuộc trao đổi, phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Hữu Nguyên, Hội Quy hoạch phát triển đô thị TP Hồ Chí Minh.
Phóng viên: Trước tiên xin trân trọng cảm ơn ông đã nhận lời trả lời phỏng vấn của phóng viên Tạp chí Người cao tuổi.
Thưa ông, là một nhà nghiên cứu đồng thời là NCT, ông nhìn nhận như thế nào về vai trò và ý nghĩa của NCT tham gia phát triển kinh tế, cụ thể là với “kinh tế bạc” trong bối cảnh nước ta hiện nay?
TS Nguyễn Hữu Nguyên: Quá trình già hóa dân số ở nước ta đang diễn ra nhanh hơn nên số lượng và tỉ lệ NCT sẽ ngày càng tăng do đó cần tìm hiểu khách quan và toàn diện hơn về vai trò, ý nghĩa của khối này trong phát triển kinh tế - xã hội và có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực “kinh tế bạc”. Đặc điểm chung nhất của khối NCT là sức khỏe có hao mòn nhưng kinh nghiệm và kiến thức vẫn có tiềm năng về nhiều mặt, như người xưa nói “Gừng càng già càng cay”.
Mặt khác, NCT có quỹ thời gian nhàn rỗi nhiều hơn so với những người trong độ tuổi lao động đang có công việc nên họ có thể lựa chọn việc làm phù hợp hơn với năng lực. Tuy nhiên trong khối NCT không phải đều là “gừng cay”, thậm chí một số còn tâm lý gia trưởng, công thần, nặng về chủ nghĩa kinh nghiệm do ảnh hưởng của quan niệm “khôn không đến trẻ, khỏe không đến già”.
![]() |
| TS Nguyễn Hữu Nguyên. |
Như vậy cái thiếu của NCT là sức khỏe cơ bắp nhưng cái mà họ còn khá nhiều là thời gian trong ngày, kinh nghiệm làm việc, vốn sống xã hội và kiến thức khoa học, nhất là đối với những người thuộc lĩnh vực lao động trí óc. Đó là cơ sở lý luận và thực tiễn để một số nước và nước ta có thể xây dựng “Kinh tế bạc”.
Tuy nhiên quan niệm cần hiểu trước hết là vì lợi ích của NCT, lợi ích ấy phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội nên “Kinh tế bạc” không chỉ để làm ra nhiều hơn những sản phẩm hàng hóa vật chất và để có thêm thu nhập cho người già mà quan trọng hơn là khai thác được cả những giá trị phi vật thể về kinh nghiệm, kiến thức khoa học của NCT để vừa góp phần phát triển kinh tế- xã hội, vừa tôn trọng những giá trị của NCT.
Như vậy, trong “Kinh tế bạc” cần phân thành hai lĩnh vực: Một là những NCT có thể tham gia làm việc nhẹ giản đơn; hai là NCT có thể làm những công việc đòi hỏi kiến thức, kỹ năng cao hơn như: Tham gia cải tiến kỹ thuật, chuyển giao công nghệ trong công nghiệp, nông nghiệp; tham gia đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường, giao thông đô thị… Đặc biệt đối với lĩnh vực chính trị, học thuật có thể góp ý, phản biện những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Riêng lĩnh vực này, NCT có thế mạnh hơn vì họ có vốn kiến thức, có bản lĩnh khoa học, bản lĩnh chính trị nên có thể mạnh dạn, nói thẳng hơn. Tóm lại “Kinh tế bạc” gắn với NCT nên không chỉ nhìn từ lợi ích kinh tế vật chất mà còn là lợi ích về tinh thần, lý luận của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Phóng viên: Theo ông, cần làm gì để tranh thủ, thu hút, kể cả “đánh thức” tiềm năng NCT tham gia vào đa dạng lĩnh vực phát triển kinh tế một cách tương xứng và hiệu quả?
TS Nguyễn Hữu Nguyên: “Thu hút, đánh thức tiềm năng” của NCT thực chất là tạo cơ hội, tạo điều kiện thuận lợi hơn để NCT có thể tự nguyện tham gia vào những công việc phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng người mà trước hết là mang lại lợi ích vật chất và tinh thần cho NCT. Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để “thị trường lao động” của “Kinh tế bạc” có tính tự nguyện cao hơn tính ràng buộc của kỷ luật lao động. Khối NCT bao gồm rất nhiều ngành nghề, lĩnh vực chuyên môn nhưng việc có được thông tin về nhu cầu tuyển dụng NCT là rất thiếu. Do đó các hội NCT ở phường, xã cần chia thành từng tổ, từng nhóm nhỏ gần nhau về địa lý hay về chuyên môn trợ giúp hội viên. Những tổ nhóm nhỏ đó không cần hội họp định kỳ mà chỉ cần có một điểm hẹn tiện lợi như một quán cà phê sân vườn đề ra hàn huyên, trao đổi chuyện đời, thời sự và thông tin về công việc… Từ những điểm hẹn nhỏ ấy có thể nảy sinh những ý tưởng lớn hơn có thể góp ý cho chính quyền về chủ trương chính sách xã hội.
![]() |
| Người cao tuổi là nguồn lực góp phần vào sự phát triển của TP Hồ Chí Minh. |
Phóng viên: TP Hồ Chí Minh - đô thị lớn nhất cả nước, có số lượng NCT đông. Theo ông, TP Hồ Chí Minh cần có những chính sách cụ thể nào để tận dụng ưu thế đó?
TS Nguyễn Hữu Nguyên: Thế mạnh, đặc thù của NCT ở TP Hồ Chí Minh là vừa có số lượng đông, vừa có chất lượng khoa học cao bao gồm tất cả các ngành kinh tế, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học chính trị, quân sự, văn học, nghệ thuật… Thành phố còn có Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật quy tụ rất nhiều NCT ở mọi lĩnh vực; nếu khai thác tốt sẽ là nguồn lực và lợi thế cạnh tranh rất lớn của TP Hồ Chí Minh.
Để khai thác có hiệu quả tiềm năng lớn này, không chỉ cần đánh giá khách quan và toàn diện về NCT như đã nêu trên mà còn cần xác định rõ quan điểm cầu thị: Thành phố cần sự đóng góp lao động, trí tuệ của NCT chứ không phải là thành phố giúp đỡ đời sống vật chất của họ. Điều này rất quan trọng vì có những NCT là trí thức, họ coi lòng tự trọng cao hơn tiền bạc khi tham gia công việc.
Về giải pháp khai thác cụ thể, thành phố nên thúc đẩy việc nghiên cứu, tổ chức, triển khai thí điểm mô hình “Kinh tế bạc” ở các phường, xã theo cả hai hướng: Xu hướng thứ nhất là sử dụng lao động cường độ thấp, không cần tay nghề cao, như ngành thương mại bán lẻ ở các khu chợ đêm, các cơ sở thủ công mỹ nghệ…; hướng thứ hai là đối với NCT có tay nghề và trình độ cao, Thành phố có thể “đặt hàng” cho Hội NCT thu thập sáng kiến giải quyết một số vấn đề còn tồn đọng lâu ở một số địa bàn.
Để thiết thực đánh thức tiềm năng nghiên cứu lý luận của NCT, TP Hồ Chí Minh có thể tổ chức các nhóm NCT có chuyên môn, có nhiệt tình và tự nguyện tham gia khai thác sâu hơn kết quả của một số cuộc hội thảo lớn đã diễn ra ở thành phố. Trong các cuộc hội thảo đó có thể có một số ý tưởng hay ứng dụng vào xây dựng đô thị văn minh, hiện đại thay vì nó chỉ nằm im trong cuốn kỷ yếu mà không được ứng dụng kịp thời. Việc “nghiên cứu hậu hội thảo” này có ý nghĩa là tránh lãng phí tiền bạc để tổ chức hội thảo và lãng phí thời gian các nhà nhiên cứu.
Mặc dù NCT ngày nay không hoàn toàn là gánh nặng kinh tế của gia đình và xã hội nhưng một số vẫn ít nhiều còn áp lực tâm lý về hai chữ “hưu trí” nên khi mô hình “Kinh tế bạc” phát huy tác dụng tích cực thì có thể tạo ra tác động kép, vừa giảm nhẹ một phần áp lực đời sống và tâm lý cho NCT, vừa giảm được một phần áp lực về phúc lợi xã hội và tình trạng thiếu lao động trong xu hướng già hóa dân số của đất nước. Để điều đó thành hiện thực, bên cạnh sự nhiệt tình và trách nhiệm của NCT còn cần nhiều hơn năng lực tổ chức mô hình “Kinh tế bạc” của chính quyền địa phương.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!



