Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tuyên truyền

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Theo Người: “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm” và “Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất”.

Công tác tư tưởng tự bản thân nó đã hàm chứa những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, đa chiều, liên quan đến tâm tư nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, Nhân dân; liên quan đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Người nói: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc”.

Trong suốt hành trình từ “người đi tìm đường” trở thành “người dẫn đường” cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã dành nhiều công sức, trí tuệ và sự quan tâm đến công tác tuyên truyền cách mạng. Người xem đó là công cụ quan trọng để tạo ra lực lượng mới hùng mạnh cho cách mạng.

Tuyên truyền là một bộ phận của công tác tư tưởng, có vị trí hết sức quan trọng, do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ mục đích của tuyên truyền: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”. Bác nói: “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem”. Do mục đích, yêu cầu của công tác tuyên truyền, nhất là tính chính xác và lan toả, nên Người yêu cầu cán bộ tuyên truyền: “Phải biết cách nói. Nói thì phải giản đơn, rõ ràng, thiết thực. Phải có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tuyên truyền

Về đối tượng tuyên truyền, theo Người, trước hết, người tuyên truyền phải nắm vững đối tượng được tuyên truyền. Nếu “Người tuyên truyền không điều tra, không phân tích, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại”. Người cũng lưu ý rằng, “Dân chúng không nhất luận như nhau, trong dân chúng cũng có nhiều tầng lớp khác nhau, ý kiến khác nhau, có lớp tiên tiến, có lớp lưng chừng, có lớp lạc hậu”. Đối với mỗi tầng lớp đối tượng, Người yêu cầu phải có phương thức tuyên truyền thích hợp và phải chú trọng ưu tiên cho lớp đối tượng có trình độ nhận thức, trình độ văn hóa thấp. Vì đối tượng này hiểu được thì các đối tượng khác cũng nắm bắt dễ dàng.

Về công tác chuẩn bị nội dung tuyên truyền. Người tuyên truyền phải chuẩn bị nội dung tuyên truyền thật chu đáo. Bởi theo Bác, làm được như vậy sẽ tránh được lối nói ba hoa, rỗng tuếch, cẩu thả, lặp lại, nhàm chán. Người từng cảnh báo: “Nhiều người trước khi nói không sắp sửa kĩ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại những cái mình đã nói rồi. Lúng túng như gà mắc tóc. Thôi đi thì trẽn, nói nữa thì chán tai”. Người căn dặn: “Khi viết xong một bài báo, một bản báo cáo hoặc thảo một bài diễn văn nhất định phải đọc lại vài lần. Mình tự phê bình bài viết của mình, hỏi ý kiến đồng chí khác. Những câu những chữ thừa vô ích bỏ đi.

Rửa mặt phải kì sát ba lần mới sạch, viết văn diễn thuyết cũng phải như vậy”. Để nội dung bài nói, bài viết có chất lượng, Bác yêu cầu người tuyên truyền phải chịu khó “nghe”, “thấy”, “xem” và “ghi chép”. Khi chuẩn bị nội dung phải suy nghĩ cho chín, sắp đặt cho cẩn thận, và nên nhờ chính những người thuộc đối tượng được tuyên truyền xem và cho ý kiến. Người yêu cầu cụ thể: “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng; phải luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ đơn giản, thiết thực và dễ hiểu; phải tự hỏi nói cho ai nghe, viết cho ai xem; chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết; trước khi nói phải sắp đặt cho cẩn thận, phải suy nghĩ cho chín chắn. Sau khi viết rồi phải xem đi xem lại ba bốn lần. Nếu là một tài liệu quan trọng phải xem đi xem lại chín mười lần”.

Người luôn nhắc nhở: “Cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành, tư tưởng phải thông, phải thật thông. Phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ”; “Phải đánh thông tư tưởng và động viên sáng kiến và lực lượng của toàn Đảng, toàn dân. Mọi người quyết tâm làm cho được và tin tưởng làm nhất định được”. Mỗi lần về thăm các nhà máy, công trường, hợp tác xã, Bác Hồ luôn nhắc nhở, động viên cán bộ, đảng viên, nhân viên: Muốn quản lí tốt thì cán bộ và công nhân phải thông suốt tư tưởng.

Trên cơ sở quy luật của công tác tư tưởng, Người đã trù liệu hệ quả khi đảng viên chưa thông suốt tư tưởng sẽ dẫn tới những biến dạng khôn lường: “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”. Vì vậy, Người mong muốn làm sao tư tưởng tiên tiến, tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải trở thành chủ đạo, trường tồn cùng với Đảng, với cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Người khẳng định: “Tư tưởng thông suốt thì mọi việc làm đều tốt. Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người làm công tác tuyên truyền phải có cách tuyên truyền phù hợp với đối tượng, với hoàn cảnh, cách nói, cách viết phải ngắn gọn, bởi lẽ “người lính đánh giặc, người dân đi làm không cho phép xem lâu”, cho nên viết ngắn chừng nào tốt chừng ấy. Tuy vậy, “ngắn gọn nhưng không phải là cụt đầu, cụt đuôi, mà phải có đầu có đuôi” và “không nhất thiết cái gì cũng phải ngắn mới tốt”. Phù hợp với đối tượng là phải gắn liền với những đối tượng cụ thể. Tuyên truyền cho đồng bào miền núi phải khác với đồng bào miền xuôi; tuyên truyền cho đồng bào các tôn giáo phải khác với đồng bào không theo tôn giáo. Với các đối tượng phải tìm cho ra các đặc thù. Ví dụ, với đồng bào miền núi thì phải nói ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo. Nội dung tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực “Một là gì, hai là gì, rồi ba, bốn, năm là gì? Làm như thế nào” và “Không nên nói trên trời dưới đất, nào là khách quan, chủ quan, nào là tích cực và tiêu cực, không đâu vào đâu cả”. Đồng thời phải nắm, phải thuyết phục cho được các già làng, trưởng bản. Nếu đạt kết quả thì tiếng nói của người tuyên truyền có sức nặng hơn, việc tuyên truyền vận động sẽ có kết quả hơn.

Thông qua nhiều kênh tiếp nhận bằng sự quan sát tinh tế, Bác phê phán một số người sính dùng chữ, nhất là thích dùng chữ Hán: “Tiếng ta có thì không dùng, mà cứ ham dùng chữ Hán. Dùng đúng, đã là một cái hại, vì quần chúng không hiểu. Nhiều người biết không rõ, dùng không đúng, mà cũng ham dùng, cái hại lại càng to”. Vì vậy, Người yêu cầu: “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”.

Người tuyên truyền phải học cách tuyên truyền của quần chúng. Đó là sự kết hợp của việc học trong sách vở, học trong thực tiễn công tác. Xuất phát từ quan điểm “Dân là gốc của tuyên truyền”, Người cho rằng, cách tuyên truyền phù hợp và có hiệu quả nhất với dân chính là cách tuyên truyền của chính Nhân dân. Bằng cách đó, dân dễ hiểu, dễ nhớ nên sẽ tin và sẽ làm theo. Người từng cho rằng: “Cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực mà lại rất đơn giản. Anh em đi tuyên truyền chưa học được cách nói đó, cho nên khi nói, khi viết khô khan, cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, muốn nâng cao hiệu quả tuyên truyền thì người tuyên truyền phải là người hiểu biết rộng, đặc biệt là nhận thức sâu việc mình tuyên truyền. Không những có đủ kiến thức lí luận mà phải có vốn sống phong phú; không những giỏi về nghiệp vụ chuyên môn mà còn phải có trình độ văn hóa cao. Người tuyên truyền giỏi phải là người biết tổ chức quần chúng, người thức tỉnh và tập hợp quần chúng. Đồng thời, người tuyên truyền phải có vốn sống về thơ ca, nhạc họa thì tác dụng và hiệu quả tuyên truyền sẽ là rất lớn.

Tuy Bác Hồ đã đi xa, song tư tưởng của Người về công tác tư tưởng, về cán bộ làm công tác tuyên truyền vẫn là hành trang, phương pháp luận quý báu để Đảng ta, đội ngũ làm công tác tuyên truyền vững tin hơn, trí tuệ sắc sảo hơn, góp phần hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc và có hiệu quả cao, được Đảng đặt niềm tin giao phó.

ThS Nguyễn Thanh Hoàng

Tin liên quan

Cùng chuyên mục

Đôi điều về “Tứ bất tử” và tín ngưỡng thờ bách thần của dân tộc Việt

Đôi điều về “Tứ bất tử” và tín ngưỡng thờ bách thần của dân tộc Việt

Cư dân Việt, khi nhắc đến “Tứ bất tử”, hẳn nhiều người biết rõ và nghĩ ngay đến các vị: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ (Chử Đồng Tử), Thánh Gióng, Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Tuy nhiên, ít có người biết, “Tứ bất tử” trên thực tế lịch sử có tới 6 vị gồm: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ, Thánh Gióng, Đức thánh Từ Đạo Hạnh, Đức thánh Nguyễn Minh Không, Thánh mẫu Liễu Hạnh. Tứ bất tử, nghĩa là 4 vị thánh không chết trong tâm thức dân gian Việt Nam, nhưng tại sao lại có tới 6 vị? Giải thích hiện tượng này, cần vén bức màn huyền bí, tìm đến tư duy biểu kiến của dân tộc Việt…
Công tác chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi - Những kiến nghị và giải pháp

Công tác chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi - Những kiến nghị và giải pháp

Kì 1 - Những kết quả cơ bản trong công tác chăm sóc, phát huy vai trò NCT
Văn hoá học đường!

Văn hoá học đường!

Mục tiêu giáo dục của nhà trường là đào tạo ra những con người phát triển toàn diện “vừa hồng vừa chuyên”. Văn hóa học đường là một biện pháp góp phần quan trọng xây dựng nhân cách con người.
Học tập phẩm chất, đạo đức Hồ Chí Minh qua công tác “đền ơn”

Học tập phẩm chất, đạo đức Hồ Chí Minh qua công tác “đền ơn”

Sinh thời, Bác Hồ luôn quan tân đến công tác đền ơn, Người từng viết “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, qua đó Người căn dặn chúng ta lòng biết ơn trong cuộc sống…
Phát huy giá trị Di tích lịch sử Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn

Phát huy giá trị Di tích lịch sử Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn

Thời gian qua, chúng tôi về thôn Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị quê hương của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.

Tin khác

Bà chúa thơ Nôm và nghi vấn về “ông Phủ Vĩnh Tường”

Bà chúa thơ Nôm và nghi vấn về “ông Phủ Vĩnh Tường”
Trong cuộc đời bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, ngoài mối duyên với ông Tổng Cóc, còn mối duyên với “ông Phủ Vĩnh Tường”, mang theo nhiều tranh cãi. Vậy, “ông Phủ Vĩnh Tường” thực tế là ai? Một công trình nghiên cứu mới đây của nhà thơ, nhà báo, nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng đã làm rõ, được in trong cuốn “Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương”, do Nhà xuất bản Hồng Đức ấn hành cuối năm 2021…

Tổ chức cưới sao cho... hài hòa, thân thiện

Tổ chức cưới sao cho... hài hòa, thân thiện
Ở Việt Nam ta, cưới xin diễn ra quanh năm; nhưng nhiều nhất vẫn là các mùa Thu - Đông - Xuân.

Nghề công tác xã hội, thực trạng và giải pháp

Nghề công tác xã hội, thực trạng và giải pháp
Bài 5: Mục tiêu phát triển nghề công tác xã hội đến năm 2030

Nghề công tác xã hội, thực trạng và giải pháp

Nghề công tác xã hội, thực trạng và giải pháp
Bài 4: Một số hạn chế về nghề công tác xã hội ở Việt Nam

Nghề Công tác xã hội, thực trạng và giải pháp

Nghề Công tác xã hội, thực trạng và giải pháp
Bài 3: Thực trạng nghề công tác xã hội ở Việt Nam

Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa

Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa
Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh có một mong muốn to lớn, đó là “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân”. Tư tưởng về phát triển hài hòa kinh tế và văn hóa của Người là định hướng quan trọng để đất nước phát triển bền vững...
Xem thêm
Phiên bản di động