Ngày 20/10/2026, tôi tròn 90 tuổi đời, hơn 60 năm tuổi Đảng. Ngoảnh nhìn lại chặng đường dài đã qua, từ 13 năm đứng trên bục giảng Đại học Bách khoa Hà Nội (1957-1970) cho tới 38 năm liên tục là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, làm việc cùng 11 đời Chủ tịch Mặt trận, may mắn lớn nhất của đời tôi là được tham dự, phục vụ và chứng kiến nhiều kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Những kỷ niệm thiêng liêng bên Bác Hồ năm 24 tuổi, những ký ức về sự liêm chính của thế hệ lãnh đạo tiền bối và cả những giờ phút gay go đấu tranh giữ gìn sự trung thực trong Báo cáo chính trị… vẫn vẹn nguyên như mới vừa diễn ra ngày hôm qua.
Mối duyên trọn đời từ giảng đường Bách khoa đến công tác Mặt trận
Tôi sinh năm 1937 tại Cẩm Giàng, Hải Dương (vùng đất giáp ranh Hải Phòng, nay là xã Cẩm Giàng, TP Hải Phòng). Tuổi trẻ của tôi gắn liền với giảng đường Đại học Bách khoa Hà Nội từ năm 1957. Suốt 13 năm làm thầy giáo dạy Ngoại ngữ, tôi chưa từng nghĩ sau này cuộc đời mình lại rẽ sang một lối đi đặc biệt: Gắn bó trọn vẹn cả đời với công tác vận động quần chúng và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
![]() |
| Đồng chí Nguyễn Túc (hàng đầu, thứ tư từ phải sang) cùng các thành viên Tổ biên tập văn kiện Đại hội X của Đảng. Ảnh tác giả Nguyễn Túc cung cấp |
Năm 1970, Trung ương điều động tôi từ trường Bách khoa Hà Nội về Ban Quốc tế Tổng Công đoàn. Sau 3 năm rèn luyện, tôi được giao nhiệm vụ làm thư ký cho các đồng chí lãnh đạo Đảng và Mặt trận. Thời ấy, tiêu chuẩn chọn cán bộ làm thư ký cực kỳ nghiêm ngặt; đồng chí Trần Quốc Hoàn khi đó là Bộ trưởng Bộ Công an phải trực tiếp xác minh lý lịch cẩn thận rồi mới ký quyết định. Công việc thư ký thời kỳ kháng chiến và bao cấp không phải là “trợ lý” hàm cấp như bây giờ, mà là người phục vụ trực tiếp, lo lắng từng công việc nhỏ nhất và gánh chịu trách nhiệm rất nặng nề trước Đảng.
Từ năm 1988 đến nay, suốt 38 năm liên tục, tôi vinh dự được bầu làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong lịch sử Mặt trận, tôi là người phục vụ và cộng tác với nhiều đời Chủ tịch Mặt trận nhất - 11 vị Chủ tịch: từ Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Hữu Thọ, Lê Quang Đạo, Phạm Thế Duyệt, Huỳnh Đảm, Nguyễn Thiện Nhân, Trần Thanh Mẫn, Đỗ Văn Chiến cho đến đồng chí Bùi Thị Minh Hoài hiện nay. Chính những năm tháng sống, làm việc sát cánh bên nhiều vị lãnh đạo kiệt xuất ấy đã rèn luyện cho tôi bản lĩnh của một người làm dân vận: Góp ý thẳng thắn, chân thành, lấy dân làm gốc và kiên quyết bảo vệ niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.
Kỷ niệm năm 24 tuổi gặp Bác Hồ tại Đại hội III (1960)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng diễn ra tháng 9/1960 tại Hà Nội là kỳ Đại hội đầu tiên tôi được tham gia phục vụ. Lúc đó tôi mới 24 tuổi, là cán bộ trẻ được cử vào bộ phận phiên dịch văn kiện và phiên dịch hội trường cùng hai đồng chí Đậu Ngọc Xuân và Trịnh Ngọc Thái. Nhờ nhiệm vụ đặc biệt này, tôi có may mắn là được gặp và làm việc gần Bác Hồ nhiều lần.
Kỷ niệm làm tôi xúc động nhất là sau những ngày bận rộn chạy ngược chạy xuôi giữa hội trường và Bộ Chính trị, làn da tôi bị cháy nắng đen sạm. Khi Đại hội sắp bế mạc, Bác Hồ nhìn thấy tôi liền ân cần hỏi: “Cháu là người dân tộc nào?”. Tôi giật mình thưa: “Thưa Bác, cháu là người Kinh ạ!. Bác cười bảo: ”Sao da cháu nâu thế?“. Tôi thưa thật: ”Thưa Bác, mấy hôm nay nắng quá, cháu chạy ngoài đường suốt nên phát nắng ạ!“. Bác lại hỏi tiếp chuyện gia đình, hỏi tôi đã có vợ chưa. Đồng chí Lê Văn Lương - lúc đó là Trưởng Ban Tổ chức Trung ương - đứng bên cạnh cười đáp thay: ”Báo cáo Bác, cháu nó mới có người yêu chứ chưa có gia đình ạ!".
Bác Hồ quay sang dặn đồng chí Lê Văn Lương trao cho tôi một tấm vé mời đặc biệt để tham dự cuộc mít tinh lớn của Nhân dân Thủ đô chào mừng thành công của Đại hội III tại sân vận động Hàng Đẫy ngày 10/9/1960. Tấm vé mời ấy và nụ cười ấm áp của Người đã trở thành hành trang tinh thần vô giá, nâng bước tôi trong suốt hơn 60 năm đứng trong hàng ngũ của Đảng.
![]() |
| Đồng chí Nguyễn Túc, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Ủy viên Bộ Chính trị Đỗ Văn Chiến, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội, nguyên là Chủ tịch MTTQ Việt Nam tại Hội nghị lần thứ 4 Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, ngày 10/7/2025. Ảnh: Quang Vinh |
Kỷ luật nghiêm cẩn và nếp sống liêm chính thời chiến, thời bao cấp (Đại hội IV, V)
Tại Đại hội IV (1976) và Đại hội V (1982), tôi tham gia phục vụ với tư cách thư ký cho đồng chí Hoàng Quốc Việt - Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Tổng Công đoàn, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam. Đây là giai đoạn đất nước vừa thống nhất nhưng phải đối mặt với vô vàn khó khăn của thời kỳ hậu chiến và bao cấp.
Tôi nhớ mãi nếp sống sinh hoạt và kỷ luật Đảng thời ấy nghiêm cẩn đến mức kỳ lạ. Cán bộ Trung ương thời đó sống rất thanh bạch. Chế độ tem phiếu định lượng thịt của Ủy viên Bộ Chính trị là 8 kg/tháng, Ban Bí thư 6 kg, Bộ trưởng 4 kg, Vụ trưởng như chúng tôi chỉ có 2 kg. Nhưng điểm đặc biệt là các đồng chí lãnh đạo cấp cao như đồng chí Hoàng Quốc Việt, trước khi ăn đồng chí đều dùng đũa gạt đôi phần ăn của mình ra, chỉ ăn một nửa, nửa còn lại để dành. Khi đi công tác địa phương, các cụ cẩn thận mang theo từng tem phiếu, nhất quyết không nhận bất kỳ quà cáp hay sự ưu ái nào của cơ sở. Nếp sống “cần, kiệm, liêm, chính” thời ấy không nằm trên khẩu hiệu, mà hiện hữu trong từng bữa ăn, từng nếp nhà, từng công việc.
Kỷ luật tổ chức thời đó cũng cực kỳ nghiêm minh. Có quy định nghiêm khắc: khi bố đang là Ủy viên Bộ Chính trị hay Ủy viên Trung ương Đảng thì con cái tuyệt đối không được quy hoạch hay bầu vào Trung ương. Cụ thể, đến khi đồng chí Trường Chinh qua đời năm 1988, đồng chí Đặng Xuân Kỳ (con trai đồng chí) khi đó là Viện trưởng Viện Mác - Lênin mới được bầu làm Ủy viên Trung ương dự khuyết. Mặt khác, khi đất nước có chiến tranh, con cái các đồng chí lãnh đạo cấp cao là những người đầu tiên lên đường ra mặt trận, như: con trai đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt, … đều nhập ngũ ra chiến trường. Tinh thần công bằng, nêu gương ấy chính là nguồn sức mạnh vô địch để Đảng ta lãnh đạo toàn dân vượt qua mọi gian khổ.
Tinh thần cởi mở của Nghị quyết 07-NQ/TW (Đại hội VII, 1993) và lời dặn của Cố vấn Phạm Văn Đồng
Năm 1993, sau Đại hội VII, Bộ Chính trị phân công đồng chí Lê Quang Đạo làm Tổ trưởng, tôi là người trực tiếp chấp bút xây dựng dự thảo Nghị quyết về đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc Thống nhất. Đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về đại đoàn kết trong thời kỳ Đổi mới. Do tính chất quan trọng của Nghị quyết, Ban biên tập đã đi lấy ý kiến của 73 đồng chí là lãnh đạo Đảng, Chính quyền, Dân vận, Mặt trận và những cán bộ chuyên trách có nhiều kinh nghiệm trong công tác Dân vận, Mặt trận.
Khi bản thảo gần hoàn thành, đồng chí Lê Quang Đạo và tôi đến xin ý kiến Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng. Tại nhà riêng, Cố vấn Phạm Văn Đồng đã ân cần dặn dò chúng tôi một câu mà suốt đời tôi không bao giờ quên. Cố vấn nói: “Không đổi mới thì chết! Đổi mới là gì? Đổi mới là phát huy sức mạnh của Nhân dân, để Nhân dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm. Nhưng đổi mới nếu không giáo dục cán bộ, đảng viên đến nơi đến chốn thì cũng chết! Bởi vì cán bộ lãnh đạo các cấp nếu không giáo dục theo định hướng Xã hội chủ nghĩa sẽ trở thành những quan cách mạng; còn các doanh nhân nếu không giáo dục lý tưởng sẽ trở thành những nhà tư sản bất chính. Sự móc nối giữa quan cách mạng với tư sản bất chính sẽ làm tha hóa bộ máy, không biết đất nước sẽ đi về đâu!”.
Lời cảnh báo mang tầm nhìn chiến lược ấy của Cố vấn Phạm Văn Đồng đã được chúng tôi đưa vào chiều sâu tư tưởng của Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 17/11/1993 của Bộ Chính trị. Nghị quyết 07 ra đời đã tạo ra bước ngoặt lịch sử: thay vì chỉ đoàn kết “những người yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội” như trước, Đảng tuyên bố đoàn kết tất cả người Việt Nam tán thành công cuộc đổi mới, vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Nhờ sự cởi mở, chân thành ấy, Mặt trận đã quy tụ được đông đảo Nhân sĩ, trí thức ở trong nước và kiều bào ở nước ngoài (như cụ Nguyễn Xuân Oánh, ông Nguyễn Cao Kỳ...) trở về đóng góp xây dựng quê hương.
Bản lĩnh giữ sự trung thực tại Đại hội X (2006): “Phải nói đúng sự thật!”
Kỷ niệm khiến tôi trăn trở và tự hào nhất về bản lĩnh của người đảng viên là tại kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (năm 2006). Lúc đó, tôi tham gia Tổ biên tập văn kiện Đại hội X. Trong quá trình thảo luận dự thảo Báo cáo chính trị, một số ý kiến trong Tổ đề xuất xóa 2 từ không nhỏ trong cụm từ “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất” (vốn đã được đưa vào từ Đại hội IX), chỉ nên viết chung chung là “một bộ phận”.
Trong phiên họp Tổ, các đồng chí cao tuổi khác im lặng. Tôi giơ tay phát biểu thẳng thắn: “Tôi đề nghị tuyệt đối không được bỏ chữ không nhỏ! Nhìn vào thực tế hiện nay, tham nhũng, tiêu cực không còn là cá biệt, mà là ăn trắng trợn, ăn tập thể, ăn cả đất đai của dân! Nếu chúng ta bỏ cụm từ không nhỏ là tự dối mình, dối Đảng và dối Nhân dân!”.
Giờ giải lao hôm đó, một đồng chí lãnh đạo phụ trách công tác tư tưởng gặp tôi trao đổi: “Bác Túc làm dân vận mặt trận lâu, trong khi nhiều đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị không nói, bác nói như vậy là có hại cho bác?”. Tôi trả lời: “Tôi là cán bộ Mặt trận, hàng ngày tiếp xúc với dân. Tôi phải nói đúng sự thật, nói tiếng nói của Nhân dân và của những người đảng viên trung thực!”.
Đến buổi chiều, đồng chí Trần Đình Hoan - Trưởng Ban Tổ chức Trung ương và đồng chí Nguyễn Thị Doan - Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương đọc Báo cáo chuyên đề về công tác kiểm tra, tổ chức: Số lượng đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật trong nhiệm kỳ IX đã tăng tới 25% so với nhiệm kỳ VIII; đặc biệt là lần đầu tiên trong lịch sử có 2 Ủy viên Trung ương Đảng bị xử lý hình sự (trong vụ án Năm Cam). Sau khi nghe báo cáo thực tế đó, các đồng chí lãnh đạo cấp cao ghi nhận sự thật khách quan và cụm từ “một bộ phận không nhỏ” tiếp tục được giữ nguyên trong Văn kiện Đại hội X.
Tối hôm đó, tại bữa cơm thân mật, đồng chí Nguyễn Phú Trọng (lúc đó là Bí thư Thành ủy Hà Nội) đến bắt tay tôi nói: “Cảm ơn bác Túc! Đảng ta rất cần những tiếng nói trung thực, thẳng thắn nhưng xây dựng như bác. Không nhìn thẳng vào sự thật thì không thể nhận diện đúng để sửa chữa sai lầm”. Lời động viên ấy chính là điểm tựa để tôi kiên trì giữ vững khí tiết của người cán bộ Mặt trận cho đến tận hôm nay.
Mời đón đọc Kỳ 2: Quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua các kỳ Đại hội - từ bài học “dân là gốc” đến tinh thần đổi mới và tầm nhìn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm


