Thành hoàng - Miếu Dọng
Lịch sử Thành hoàng Nghĩa Dũng đã có bia kí bằng chữ Hán. Tấm bia dựng ở cung miếu Dọng tính đến 2019 đã là 159 năm, hiện còn nguyên vẹn.
Tương truyền, vào thời Nhà Trần có giặc ngoại bang ở hướng tây làm loạn, lẩn vào đất Việt cướp cõi, chiếm giữ các châu. Vua liền triệu quan coi giữ biên giới về triều hội nghị. Vua có ý định thân chinh cầm quân ra trận... Song, Thái tử Trần Đệ (Đệ Công) xin vua cha cho phép được tự cất quân dẹp giặc nước.
Đệ Công lập đàn tế đảo trời đất thần kì, tự đứng khấn, mong được sự linh ứng âm phù. Tế xong, Ngài ra lệnh tiến quân nhằm hướng đồn giặc bên sông Hàn (Hàn Giang, phía bắc thành phố Hải Dương ngày nay), trực tiếp chỉ huy giáp công vây đánh. Giữa lúc quân sĩ hùng dũng khai trận, bỗng nhiên đất trời nổi cơn mưa gió, sấm sét ầm ầm, đá bay cát bụi khiến quân giặc tan vỡ trong chốc lát. Đất trời trở lại bình yên. Đệ Công rút quân về Triều bái mệnh. Vua cả mừng, sai mở đại yến khao quân và phong Đệ Công giữ chức Tả Dực Đại Tướng Quân.
|
| Miếu làng Nghĩa Dũng được phục dựng năm 2014 trên nền miếu cổ có mộ của Hoàng Đệ Hoàng Thái Tử |
Đệ Công bừng tỉnh, biết là thần báo mộng. Ngay sớm hôm sau Ngài cho gọi Nhân dân sở tại đến hỏi, rồi sai sửa sang lăng mộ, làm lễ tạ. Đoạn, Ngài lệnh tiến quân nhằm hướng đồn giặc, bao vây đánh giáp, đắc thắng.
Xong việc trị giặc ngoại xâm, Đệ Công lệnh lui quân về cung đồn quán ở Quán Hựu, mở đại tiệc khao quân, làm lễ tạ phần mộ Phạm Công Tử, mời dân làng đến cùng yến ẩm mừng công. Ngay nửa đêm hôm đó, Đệ Công lại mộng thấy bản thân cưỡi rồng xanh từ trên trời giáng thẳng xuống… Sáng ra, Ngài đi xem phong cảnh phía Nam cạnh làng. Đến khu đất Mả Vân (nơi miếu thờ hiện nay) dừng nghỉ, rồi tự nhiên từ trần. Trong khoảnh khắc, mối xông thành đại mộ. Hôm ấy là ngày 11 tháng 11 âm lịch.
Nhân dân làng Dọng làm sớ tâu lên triều đình. Vua rất thương xót, đồng thời phong tước vị cùng truy tặng mĩ tự: “Hoàng Đệ Hoàng Thái Tử - Thượng Đẳng Phúc Thần Đại Vương” muôn đời thiết thực cùng đất nước dài lâu mãi mãi.
Liền sau đó, Đức vua sai sứ thần về cùng Nhân dân địa phương xây miếu, đèn hương thờ cúng và lĩnh tám trăm quan tiền để làm lễ Xuân Thu quốc tế. Miếu thờ xây ngay trên hóa địa, ở bìa trước làng, quay hướng đông nam, nhìn ra sông Đòng qua ao Phe Đông. Miếu có 3 gian 2 chái. Gian giữa kéo dài về phía sau gọi là “chuôi vồ”, tạo dáng chữ Đinh (T). Tường gạch. Mái lợp ngói mũi hài, bốn góc đầu đao cong. Trên nóc là Lưỡng long chầu nguyệt. Không gian trong miếu gồm hai phần cách nhau bởi một bức rèm, nội điện có tượng thần. Ngôi mộ Đệ Công - tứ diện tòng tứ, rộng 4m2, cao chừng 1m, nằm giữa cung. Nhà tiền tế rộng rãi, được dựng bằng những cột lim tròn màu đen, to một người ôm, đặt trên những hòn đá tảng lớn. Vì kèo, xà ngang, xà dọc cũng bằng gỗ lim. Trong lòng miếu, mùa Hè rất mát, mùa Đông thì không lạnh.
Phía trước miếu có thổ tinh long thủy quanh quất “Long đầu vân ám”, gọi là đống Mả Vân. Nơi cung quán (Quán Hựu) thường gọi là Trạm ngoài. Lăng Phạm Công Tử (Mả Trắc) tọa hướng tốn, nay còn dấu tích.
Vua chuẩn y cho làng Dọng trông nom miếu mộ, hương thờ phụng đời đời. Các kì phúc: Giỗ Đệ Công từ trần (bắt đầu từ 11 tháng 11 âm lịch) và Ngày Khánh hạ (bắt đầu từ 12 tháng Giêng âm lịch) đều thực hiện chuẩn chỉ nghi thức tế lễ theo quy định về thời gian và các khoản đãi vật chất, khoản đãi tinh thần, tuần tự quy trình các địa điểm tế rước (Chính miếu - cung quán (Quán Hựu) - lăng Phạm Công Tử (đống Mả Trắc) - Chính miếu) theo vòng khép kín.
Kí ức một thời đình đài lễ hội
Xa xưa, đình và chùa Dọng ở phía bắc làng. Khoảng thế kỉ XVII, dân làng chuyển đình và chùa xuống phía Nam làng (vị trí hiện nay) cho gần với miếu thờ Thành hoàng Trần Đệ, tạo nên một quần thể đình - chùa - miếu sầm uất hiếm có và những lễ hội tưng bừng.
Hồi ấy, Lễ hội làng Dọng được mở mỗi năm hai kì, ứng với sự kiện Thành hoàng (đã đề cập ở trên). Tháng giêng mở hội từ ngày mùng Mười, có lễ tế tập nghi ngày 11. Từ ngày 12 trở đi mọi nghi thức tế lễ theo quy định. Hội có thi vật, xen kẽ các trò vui khác như kéo co, chọi gà, cầu thùm bắt vịt, cờ người...
Đến tháng 11, Lễ vào đám thật linh đình. Đúng ngày 11 - ngày hoá (nhân thần), từ sáng sớm, quan viên hàng giáp tề tựu tại miếu, sửa sang, cắt đặt việc rước thần từ miếu sang đình. Các đăng cai hàng giáp rước mâm xôi, lợn đã làm thịt để nguyên cả con phủ phục trên giá gỗ, xe ra đình để quan viên tế thần. Tế xong, giáp nào về nhà đăng cai giáp ấy chia phần. Xong việc tế lễ, lại rước thần từ đình trở lại miếu yên vị. Các ngày tiếp sau đó chèo, hát liên tục. Ngày 17 làm lễ Tế hậu (tạ những người ngày trước chết đi không có con, đã cúng tài sản của mình cho làng để sửa sang đình chùa, miếu mạo). Đến ngày 18, tiến đóng cửa đình.
Trong thời kì kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), Nhân dân Nghĩa Dũng đã tự nguyện hi sinh, phá gần hết những di tích hiếm có ấy, chỉ để lại miếu và chùa.
Thời kháng chiến chống Mỹ, miếu Dọng là nơi tổ chức các cuộc liên hoan văn nghệ tiễn tân binh lên đường tòng quân cứu nước cũng như các hội họp của làng. Vào những năm gần cuối thập kỉ 60 thế kỉ trước, theo yêu cầu nhiệm vụ chung, miếu Dọng cũng bị phá đi. Tuy nhiên, phần mộ Thành hoàng và bia kí đã được dân làng bảo vệ, giữ gìn cho tới khi làng phục dựng miếu ngay trên nền cũ vào năm 2014 và bia mộ vẫn tại vị như xưa.
Cùng với việc phục dựng miếu thờ Thành hoàng, lễ hội tuyền thống của làng Nghĩa Dũng cũng được khôi phục phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng và chủ trương xây dựng nền văn hóa nước nhà theo hướng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần tích cực vào phát triển đời sống kinh tế, xã hội của địa phương.
Bài và ảnh Phạm Xưởng

