Danh mục
THEO DÕI TRÊN: Facebook Youtube Tiktok
tien-toi-dai-hoi-vii
Nhà giáo Nguyễn Văn Đoàn, sinh năm 1951 tại làng Vĩnh Tuy, xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An trong một gia đình có truyền thống hiếu học; nhà có 5 anh em, anh cả là liệt sĩ chống Mỹ.
+
aa
-

Đời ông có lắm chuyện không may. Vì “thấp bé nhẹ cân”, nên ông không đủ điều kiện nhập ngũ, mà đi học sư phạm 10+3. Sau khi ra trường, đi dạy học rồi lập gia đình, sinh con, có lúc được bầu làm quản lí nhưng phải thôi vì… sinh đẻ vỡ kế hoạch. Song cô con gái đẻ thêm ấy, sau lại trở thành học sinh trường chuyên Phan Bội Châu, đoạt giải 3 quốc gia môn Địa lí. Khi vợ chuẩn bị về hưu thì bị tai biến, con trai lập gia đình nhưng hiếm muộn và mất việc làm, con gái bị tai nạn nặng, còn ông thì trong một lần đến trường bị một ông già say rượu tông vào xe. Cú va ch?m này khiến ông như q?y hẳn. May mà “khổ tận, cam lai”, vợ ông khỏe dần, con cái có việc làm, sinh cháu trai, con gái về nhà chồng, vườn thu xanh trở lại…

Về hưu, ai cũng nghĩ ông sẽ chí thú chăm vợ, làm vườn trong cái “trang trại” dưới chân rú Tháp và lãng đãng với những câu thơ: Mấy triệu năm rồi núi Nhạn ơi/ Tròn căng hai ngọn giữa mây trời… Tưởng thơ phú nhì nhằng thôi, ai ngờ bạn bè lại xui ông làm một chuyện mà nhiều người cho là “hâm, điên, rách việc”, đó là sưu tầm, nghiên cứu văn hóa làng Vĩnh Tuy.

Làng Vĩnh Tuy quê ông là một vùng trầm tích văn hóa mà trước đây nhiều người để ý và góp phần khai phá. Tuy nhiên, để hình thành một cách hệ thống, toàn diện thì phải chờ đến hội nghị viết sử làng năm 2001, nhưng “đại sự bất thành” vì không có kinh phí. Vậy mà giờ đây một mình ông dám làm.

Kì nhân làng Vĩnh Tuy

Ban đầu, ông phụ việc cho nhà giáo Trần Long, bậc túc nho của làng, san định câu đối, thơ Đường… làm “Tổng tập Trần Long”. Sau đó, ông xin tài liệu để nghiên cứu rồi tìm đến các đền chùa, dòng họ xin đọc, ghi chép gia phả, văn bia, sắc chỉ… Hán Nôm thì hỏi cụ Trần Long, những băn khoăn khác hỏi cụ Ước, cụ Cẩm, ông Hộ, rồi nhờ ông Huyên tộc trưởng họ Nguyễn lần mò các cổng gạch của làng và các hộ ngày xưa… Cái bản đồ cổng gạch của làng này độc nhất vô nhị, chỉ có mình ông làm nổi, bởi có những hộ đã biến mất cả nửa thế kỉ, có những cái tên chỉ là kí ức. Khổ nhất là đi tìm văn bia của giếng làng, nghe nói bị dỡ ra làm đá ghép bến giặt ngoài sông, ông loay hoay mãi ở bến, nhòm ngó, chờ nước cạn để xem xét, nhưng nó cũng biến mất lâu rồi. Nghĩa là có những việc rất khổ công nhưng chỉ thu về tay trắng mà chả dám tâm sự cùng ai, bởi người quê không thích nhiễu sự, nhất là bới lên những chuyện từ ba đời, tám kiếp.

Rồi ông đi hỏi han, chụp ảnh, ghi chép những đồ đồng, đồ đá, tiền đồng tìm được trên lèn Vĩnh Tuy, đồi rú Mượu. Thứ đó ở đây nhiều nhưng vì không biết nên đem cho trẻ con chơi, bán đồng nát hoặc trôi dạt trong dân gian. Khi tìm tài liệu về làng, ông phải gọi điện khắp nơi, có khi cả tháng mới được phản hồi, hoặc tìm đến các cụ còn nhớ ca dao, hò vè, chuyện trạng để ghi chép. Ông luôn ở tư thế săn tìm tư liệu kể cả lúc đi đám cưới, đám ma, chuyện trò, có tư liệu gì mới là ghi ngay.

Vậy mà ông vẫn gặp phải sự bất hợp tác, đố kị của một số người. Theo họ, để làm việc này phải là nhà này, nhà nọ chứ một giáo viên cấp II như ông thì nghiên cứu cái gì? Khi ông hoàn tất bản thảo, có người nhận đánh máy rồi để đó cả năm, khiến ông van nài mãi mới ôm được về. Rồi thì chuyện tranh chấp bút tích, người bảo bài này của họ tôi, người nói của cụ họ tôi mới đúng, có người lại thắc mắc sao không đưa ông nọ, bà kia vào… Lắm lúc ông đi rạc cẳng, về nhà thấy vợ ngồi bạc tóc ở một xó, rồi đứa con gái trong Nam bị tai nạn, ông thì có lúc phải vào viện ung bướu… nên chỉ muốn vứt bỏ công việc. Thế nhưng khi tĩnh trí, ông lại đọc đọc, chép chép… lại nhớ đến cuốn sách làng.

Sau mấy năm vắt sức, nay cuốn bản thảo hoàn tất với 3 phần: Phần 1: Làng Vĩnh trước đây (dư địa chí làng, lịch sử hình thành làng từ thời Lê Sơ đến sau này). Phần 2: Văn hóa, kiến trúc, nhân vật (lễ hội, kiến trúc, cổng làng, giếng làng, chùa, đền; chuyện về các nhân vật lịch sử của làng). Phần 3: Thơ văn làng Vĩnh (văn học dân gian, tuồng, hát giặm, thơ châm biếm, chuyện cười, với các tên tuổi gắn liền trong các thời kì…). Gấp sách lại thấy nể tác giả vì ông đã gom nhặt, đọc và làm hộ cho chúng ta từ một “Kho di cảo”, để tuyển được hơn 300 trang văn này.

Có nhân thì có quả, với tập bản thảo “Vĩnh Tuy - Đất nước - Con người”, ông được nhà giáo Trần Long, Nguyễn Văn Khương hết lòng ủng hộ. Cụ Ngô Minh Hớn từ Vinh về quê trò chuyện với ông một ngày. Đại tá, nhà báo Trần Tiệu, Tiến sĩ Đào Hiếu từ Hà Nội gọi điện về cổ vũ ông rất nhiệt thành. Đó là nguồn động viên vô giá mà ông có được sau bao ngày lao tâm khổ tứ “ăn cơm nhà vác tù và làng Vĩnh”.

Bài và ảnh Trần Ngọc Khánh

Tags:

Tin tức bạn quan tâm

Chi hội trưởng NCT gương mẫu, tận tâm vì cộng đồng

Với tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy và uy tín trong cộng đồng, bà Trương Thị Vinh, dân tộc Dao, Chi hội trưởng Chi hội NCT, thành viên Tổ hòa giải cơ sở ở thôn Bằng Cả 3, xã Quảng La, tỉnh Quảng Ninh đã trở thành điểm tựa tinh thần, góp phần xây dựng khối đoàn kết và thúc đẩy các phong trào ở địa phương phát triển.

Lão nông đưa mây tre đan Việt vươn ra thế giới

Gần 20 năm gắn bó với nghề thủ công mỹ nghệ, ông Lê Văn Đạt (sinh năm 1961), chủ cơ sở sản xuất mây tre đan Hiệp Hòa, tổ 37, phường Long Hải, TP Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công mô hình sản xuất mây tre đan theo hướng hiện đại, đưa những sản phẩm mang đậm bản sắc Việt Nam chinh phục nhiều thị trường quốc tế. Không chỉ làm giàu cho gia đình, ông còn tạo việc làm ổn định cho hàng trăm lao động nông thôn, góp phần phát triển kinh tế địa phương và gìn giữ nghề thủ công truyền thống.

Người hiến hơn 600m2 đất xây đền tưởng niệm liệt sĩ

Bằng tấm lòng tri ân sâu sắc 93 liệt sĩ anh dũng hy sinh trên chính mảnh đất của gia đình, hơn 50 năm qua, ông Bùi Hữu Tuấn, 76 tuổi ở xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã hương khói, thờ cúng đầy thành kính. Mới đây ông tự nguyện hiến hơn 600m² đất vườn dọc Quốc lộ I để xây dựng đền thờ tưởng niệm các liệt sĩ.

Người phụ nữ Mường 61 tuổi với hành trình 15 năm “vác tù và” nơi thôn bản

Ở tuổi 61, bà Phạm Thị Quân (thôn Tiền Phong, xã Ngọc Liên, tỉnh Thanh Hóa) vẫn tham gia công tác xã hội đầy nhiệt huyết, là “ngọn lửa” dẫn dắt các phong trào thi đua tại địa phương. Với hành trình 15 năm “vác tù và” nơi thôn bản, bà Quân là tấm gương sáng của người cao tuổi vùng cao với tinh thần lao động, cống hiến tận tụy.

Cựu chiến binh cao tuổi tiên phong trên mặt trận phát triển kinh tế

Với những nỗ lực, sáng tạo không ngừng trong phát triển kinh tế cùng tinh thần của một người lính Cụ Hồ không bao giờ dừng bước trước mọi khó khăn, cựu chiến binh (CCB) Trần Lương Cương, sinh năm 1953 ở thôn Thượng Xá, xã Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã xây dựng thành công mô hình kinh tế nông nghiệp tổng hợp điển hình trên quê hương. Ông còn là tấm gương sáng giúp đỡ đồng chí, đồng đội và người dân khó khăn về nguồn vốn, kinh nghiệm, khoa học kỹ thuật, cây con giống để phát triển kinh tế; đồng thời có nhiều đóng góp cho các phong trào, hoạt động ở địa phương...

Người cao tuổi làm giàu từ rừng

Sau những năm tháng nỗ lực, giờ đây gia đình ông Đặng Văn Nông, 68 tuổi ở phường Phong Điền, TP Huế đã sở hữu gần 30ha rừng keo tràm và hơn 15ha cây cao su, cùng những ao cá, vườn cây ăn trái… đã giúp gia đình ông thu về tiền tỷ mỗi năm.
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9